các phương pháp phê bình văn học

Bằng 6 CÁC LÝ THUYẾT PHÊ BÌNH VĂN HỌC tiếng Việt, có Chủ nghĩa cấu trúc và văn học do Trịnh bá Dĩnh giới thiệu và dịch (2002), nhà xuất bản văn học & trung tâm nghiên cứu quốc học. (1) Dẫn theo Ann Jefferson và David Robey (eds) (1982), Modern Literay Theory: A Comparative Introduction Trên đây là những chia sẻ của Phê Bình Văn Học về 8 biện pháp tu từ thông dụng trong chương trình học của các em. Chúng tôi tin rằng bài viết này sẽ thực sự mang lại những kiến thức quý báu, giúp các em nhận biết, phân biệt và áp dụng tốt các biện pháp tu từ trong 3. Các loại hình cơ sở giáo dục đại học bình đẳng trước pháp luật. 4. Căn cứ vào năng lực và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, cơ sở giáo dục đại học xác định mục tiêu phát triển, định hướng hoạt động như sau: đến 3 lần rồi lấy kết quả trung bình. Khi đọc phải đặt mắt ngang tầm mực chất lỏng. Trong mỗi dung dịch đều chứa các chất hoạt động bề mặt do đó làm ảnh hưởng đến sức căng bề mặt dẫn đến làm giảm hoặc tăng so với nồng độ thực tế. 3.2.2.2 Tôi xin cam đoan Luận văn cao học về đề tài “Công tác xã hội đối vớingười nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hảiđảo từ thực tiễn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi” là công trình do chínhtôi thực hiện. Mọi thông tin trong đề tài được Nửa đầu thế kỷ XX, đã xuất hiện nhiều công trình lý luận phê bình ứng dụng các học thuyết văn nghệ phương Tây vào việc nghiên cứu văn học Việt Nam. Trong đó, công trình mang màu sắc thi pháp học rõ rệt nhất là Chương Dân thi thoại (1936) của Phan Khôi. Nhìn chung Vay Tiền Online Từ 18 Tuổi Bankso Vn. Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy khi đánh giá về tình hình phê bình văn học theo phong cách học ở nước ta đã có lí khi cho rằng “Phê bình phong cách một tác phẩm hoặc một nhà văn chỉ bằng một vài nhận xét thì đã có nhiều. Nhưng phê bình phong cách học thì hãy còn là một con đường đang được khai phá. Và đi trên con đường này, lữ khách không chỉ bỏ lại đằng sau những các trang bị cũ, mà còn phải học hỏi và sử những công cụ mới. 10 trang Chia sẻ truongthinh92 Lượt xem 1350 Lượt tải 0 Bạn đang xem nội dung tài liệu Phong cách học với nghiên cứu, phê bình văn học, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trênTạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 63 năm 2014 _____________________________________________________________________________________________________________ 172 PHONG CÁCH HỌC VỚI NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH VĂN HỌC NGUYỄN HUY PHÒNG* TÓM TẮT Phong cách học là một ngành khoa học nghiên cứu văn chương. Từ lâu nó được biết đến với tư cách là một công cụ phê bình văn học hiệu quả trong việc chỉ ra những nét độc đáo, đặc trưng trong sáng tác của mỗi nhà văn. Tuy nhiên, những vấn đề về nội hàm khái niệm, việc xây dựng những tiêu chí đánh giá theo phong cách học vẫn tồn tại nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau. Việc nhìn nhận lại sự ra đời, phát triển và những ứng dụng của phong cách học đối với phê bình văn học trong và ngoài nước là cần thiết để khẳng định tầm quan trọng của phong cách học đối với đời sống nghiên cứu, phê bình văn học hôm nay. Từ khóa phong cách học, nghiên cứu phê bình văn học. ABSTRACT Stylistics in literary studies and criticism Stylistics is a science of literary studies. It has long been known as an effective instrument of literary criticism in order to point out the unique and characteristics of a writer's work. However, there have been different views on the connotation of stylistics and development of evaluation criteria for this concept. It is crucial to re-acknowledge the formation, development and application of this science in literary criticism so as to confirm the importance of stylistics in contemporary literary studies and criticism. Keywords stylistics, literary studies and criticism. * ThS, Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 1. Đặt vấn đề Đánh giá về sự phát triển của một nền văn học, có ý kiến cho rằng đó là sự phát triển của các thể loại; ý kiến khác thì khẳng định đó là sự xuất hiện, phát triển của các trường phái, trào lưu, các phương pháp sáng tác...; và một số nhà nghiên cứu thì nhấn mạnh, đề cao sự xuất hiện của các phong cách nghệ thuật lớn. Bởi mỗi nhà văn, bằng tài năng và nỗ lực sáng tạo không ngừng, sẽ tạo cho mình một lối viết, một phong cách riêng trong việc khám phá, phản ánh những vấn đề của hiện thực đời sống. Và chính nhờ sự độc đáo, khác lạ trong cách khám phá, cách nêu và giải quyết vấn đề sẽ tạo ra sự phong phú, đa dạng trong đời sống văn chương, phản ánh sinh động quy luật, bản chất của nghệ thuật sự khác lạ, không lặp lại. Nghiên cứu, phê bình văn học theo phong cách học là khuynh hướng phê bình xuất hiện sớm và đã đạt được nhiều thành tựu. Tuy nhiên, những vấn đề lí luận về phong cách đến nay vẫn tồn tại nhiều cách hiểu chưa thống nhất, nội hàm khái niệm, phạm vi ứng dụng của phong cách học với thi pháp học, phương pháp sáng tác vẫn còn chưa rõ ràng, khó phân định rạch ròi. Vì thế trong bài viết này, Ý kiến trao đổi Nguyễn Huy Phòng _____________________________________________________________________________________________________________ 173 chúng tôi muốn đưa ra cái nhìn tổng quan về phong cách học từ nguồn gốc tên gọi, các ý kiến, quan điểm của các nhà lí luận phê bình xung quanh thuật ngữ, nội hàm khái niệm phong cách đến việc ứng dụng phong cách học trong nghiên cứu văn học trên thế giới và ở Việt Nam...; từ đó thấy được ưu thế, vị trí và vai trò quan trọng của phong cách học trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học. 2. Về thuật ngữ phong cách học Thuật ngữ Stylos Hi Lạp, Stylus La Mã, Style Pháp có nghĩa là phong cách học, ra đời sớm nhất ở Hi Lạp - La Mã cổ đại với ý nghĩa ban đầu chỉ nét chữ, bút pháp, nghĩa rộng hơn là chỉ tình yêu ngôn ngữ, nghệ thuật dùng từ. Như vậy trong khái niệm ban đầu, phong cách học thuộc lĩnh vực của ngôn ngữ học. Điều đó được minh chứng trong các công trình nghiên cứu của Arixtôt, Gôraxia, Xixêrôn, Xkaligher... Sang đến thời cận đại, khái niệm phong cách học không chỉ được hiểu trong phạm vi hẹp của ngôn ngữ học mà nội hàm khái niệm đã được mở rộng. Phong cách học được coi là đặc trưng nghệ thuật của nghệ thuật, một phạm trù thẩm mĩ, một hệ thống nghệ thuật biểu hiện hình thức của tác phẩm. Nhà nghiên cứu I. Vinkenman cho rằng “Phong cách học là một phương hướng riêng biệt trong nghệ thuật hình thành ở thời đại nào đó và là một hệ thống xác định của các dấu hiệu nghệ thuật tư tưởng” [3, Cùng với sự phát triển của các khuynh hướng nghiên cứu, phê bình, của đời sống văn chương nghệ thuật, tới thời hiện đại, phong cách học được coi là một phạm trù thẩm mĩ, một hiện tượng văn học nghệ thuật bao gồm trong đó tất cả sự đa dạng và phức tạp của nó. Phong cách được nghiên cứu trong mối tương quan với tư tưởng, với nhà văn và với thời đại. Có thể nói, xoay quanh khái niệm phong cách học có rất nhiều ý kiến, quan điểm bình luận, đánh giá nhằm xác định rõ nội hàm, phạm vi, đặc trưng của lĩnh vực nghiên cứu. Nhưng càng nghiên cứu, các nhà khoa học lại càng nhận ra sự đa dạng, phức tạp của đối tượng. Theo Khrapchenko thì “hiện đang tồn tại một số lượng rất lớn những định nghĩa khác nhau về phong cách học văn học. Những định nghĩa này xòe ra như cái quạt giữa sự thừa nhận phong cách là một phạm trù lịch sử - thẩm mĩ rộng nhất, bao quát và sự nhìn nhận nó như những đặc điểm của những tác phẩm riêng lẻ” [3, Và với quan điểm của mình, ông khẳng định “Phong cách là phương pháp biểu đạt cách chiếm lĩnh đời sống bằng hình tượng, là phương pháp thuyết phục và hấp dẫn người đọc” [3, Như vậy, phong cách ngoài các tính chất khác, nó là biện pháp nghệ thuật, là các thủ pháp thể hiện tư tưởng và hình tượng một cách tiết kiệm, hiệu quả nhất của người nghệ sĩ. Còn theo cách hiểu truyền thống, thì phong cách được hiểu đó là tính cá thể, độc đáo, là một hệ thống các phương tiện biểu đạt, là hình thức nghệ thuật được xem xét trong tính quy luật và các nguyên tắc hài hòa. Trước sự phát triển mạnh mẽ của đời sống văn học cũng như sự xuất hiện của các khuynh hướng, trường phái Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 63 năm 2014 _____________________________________________________________________________________________________________ 174 nghiên cứu, phê bình mới, phong cách học cũng đã được khu biệt, nhìn nhận một cách thỏa đáng vơi những tiêu chí nhận diện cụ thể mang tính đặc trưng so với các khuynh hướng phê bình khác. Bằng những lí thuyết về văn học và thực tiễn ứng dụng, các nhà nghiên cứu, phê bình đã dần bổ khuyết và lấp đầy những khoảng trống về lí luận của lĩnh vực nghiên cứu phức tạp nhưng đầy triển vọng như phong cách học. 3. Một số quan điểm của các nhà lí luận phương Tây về phong cách học Nói tới phong cách học, người đọc thường liên tưởng tới lĩnh vực nghiên cứu của ngôn ngữ học, mà bản chất của văn chương là nghệ thuật ngôn từ, lấy ngôn từ làm chất liệu, phương tiện biểu đạt nội dung, hình tượng, tư tưởng. Đúng như M. Gor-ki từng nói “ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn học”, vì vậy khi đề cập vấn đề phong cách, hầu hết các nhà nghiên cứu đều dành sự quan tâm đặc biệt đến yếu tố ngôn ngữ, coi đó là một trong những yếu tố quan trọng quyết định phong cách của nhà văn. Vinôgrađốp cho rằng để hiểu được phong cách của nhà văn phải dựa vào sự am hiểu sâu sắc ngôn ngữ của văn học nghệ thuật trong tính đa dạng về thể loại, dựa vào sự hiểu biết các quy luật phát triển đặc điểm phong cách của thể loại “Phong cách đó là một hệ thống sử dụng về mặt mĩ học cá nhân những phương tiện biểu đạt bằng ngôn ngữ vốn có của thời kì nhất định của sự phát triển văn học nghệ thuật” [3, Pacpêlôp cũng khẳng định thành phần của phong cách gồm có ngôn ngữ, cốt truyện, những chi tiết biểu hiện. Ngôn ngữ là sự thể hiện cảm xúc rõ ràng nhất của phong cách. Cùng quan điểm này, nhà nghiên cứu Ya. Elxberg cho rằng “Phong cách trước hết bao trùm ngôn ngữ của tác phẩm, tức là ngôn ngữ nghệ thuật, thể loại, bố cục, nhịp điệu, thanh điệu, ngữ điệu, vần điệu. Nhưng đồng thời phong cách ảnh hưởng cả một số phạm trù của nội dung như tính cách, cốt truyện, tính hình tượng của tác phẩm nói chung” [3, Cụ thể hơn, V. Turin đã cụ thể hóa khái niệm phong cách học – “đó là ngôn từ được xét trong mối quan hệ của nó với hình tượng, đó là tác động qua lại thường xuyên giữa những khái niệm và những ý nghĩa nảy sinh trong ngôn từ vốn đặt vào một văn cảnh nghệ thuật” [3, Là một ngành khoa học đứng giữa ngôn ngữ và văn chương nên đôi khi việc xác định nội hàm khái niệm phong cách học vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Nhà nghiên cứu Đ. Likhachev đề nghị cần phân biệt rõ hai khái niệm phong cách “Phong cách như là hiện tượng ngôn ngữ văn học và phong cách như là một hệ thống hình thức và nội dung nhất định” [3, Còn V. V. Vinogradov lại có cách phân chia phong cách học về văn học thành 2 loại Phong cách học thuộc ngôn ngữ học và phong cách học thuộc nghiên cứu văn học Bên cạnh đó, khái niệm phong cách học cũng thường bị hiểu đồng nhất với thi pháp học, mặc dù giữa hai lĩnh vực nghiên cứu có sự liên hệ, tác động qua lại nhưng không thể đồng nhất. Khác với các đồng nghiệp và những nhà khoa học đi Ý kiến trao đổi Nguyễn Huy Phòng _____________________________________________________________________________________________________________ 175 trước, xem thi pháp học là lí luận văn học, Khrapchenko xem thi pháp học là khoa học nghiên cứu hệ thống các nguyên tắc, phương thức, phương tiện mĩ học dùng để sáng tạo nên các tác phẩm nghệ thuật. Ông cũng phản đối lối đồng nhất hoặc tách rời đơn giản phong cách học với thi pháp học mà cho rằng nên xem phong cách học như là một bộ phận của khoa thi pháp học rộng lớn. Nghiên cứu đặc điểm phong cách và nguyên tắc sáng tạo của nhà văn đều là nhiệm vụ của thi pháp học. Cùng quan điểm này, nhà nghiên cứu B. V. Gornung chủ trương phải phân giới dứt khoát thi pháp học với phong cách học. Ông viết “Phong cách là một tổng thể toàn vẹn những sự kiện biểu cảm khiến cho lời phát ngôn có một sắc thái ý nghĩa trọn vẹn, bất chấp cấu trúc ngữ nghĩa cơ bản của phát ngôn ấy. Cần coi những sự kiện biểu cảm này là những sự kiện phong cách sẽ được nghiên cứu không phải trong thi pháp học và từ chương học mà là trong một bộ môn ngữ văn đặc biệt” [3, Để phân biệt thi pháp học và phong cách học cũng như mối tương quan giữa chúng, những ý kiến của rất đáng được quan tâm vì giàu sức thuyết phục khi ông cho rằng “Thi pháp học như là khoa học về các hình thức, các phương tiện và phương thức tổ chức của các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, về các kiểu cấu trúc và các thể loại tác phẩm văn học; như là một khoa học có xu hướng bao quát không chỉ các hiện tượng ngôn từ thi ca mà còn cả những phương diện rất đa dạng của các tác phẩm văn học thành văn và phong cách của sáng tác ngôn từ dân gian. Còn phong cách học nghiên cứu sự phát triển của các phong cách cá nhân, chiếm vị trí trung tâm trong phong cách học văn học là những quan sát và nghiên cứu trong lĩnh vực các quy luật hình thành và phát triển của các hệ thống biểu hiện ngôn từ nghệ thuật - đây là những hệ thống có tính chất cá nhân hoặc được cá thể hóa, tức là được hình thành như những cấu trúc cố định và hoàn chỉnh - cả trong lịch sử từng nền văn học dân tộc nói riêng, cả trong lịch sử chung của văn học thế giới phong cách tác phẩm văn học, phong cách nhà văn, phong cách trường phái văn học” [3, Nghiên cứu, xem xét phong cách học ở bình diện cấu trúc, đối tượng nghiên cứu, cũng như những yếu tố tác động làm nên phong cách của nhà văn, đã nhận được nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau của các nhà lí luận, phê bình. khi nhận định về phong cách của tác phẩm văn học đã nhấn mạnh sự thống nhất của các yếu tố nội dung và những yếu tố tạo hình thức của phong cách. “Phong cách nghệ thuật của nhà văn là sự biểu hiện thế giới quan của anh ta, thế giới quan đó được thể hiện trong những hình tượng bằng các phương tiện ngôn ngữ. Bởi vậy không thể nghiên cứu phong cách nghệ thuật của nhà văn trong tính mục đích chức năng của nó mà tách rời nội dung tư tưởng - hình tượng của tác phẩm. Đồng thời, phong cách của tác phẩm văn học không phải là tu từ học đề tài, hình tượng, bố cục của tác phẩm văn học, nội dung nghệ thuật của nó nội dung này được thể hiện bằng những Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 63 năm 2014 _____________________________________________________________________________________________________________ 176 phương tiện ngôn ngữ nhưng không giới hạn ở từ ngữ cũng là những yếu tố quan trọng của của phong cách, và có thể khá quan trọng, bởi vì chúng xác định cả những nguyên tắc nghệ thuật của việc lựa chọn chất liệu từ ngữ, tức là tu từ học hiểu theo nghĩa hẹp của từ đó” [3, Còn L. Nôvichenkô thì cho rằng phong cách nghệ thuật gắn liền với cá tính sáng tạo và bị chi phối bởi những tác động của thời đại, cộng đồng. “Phong cách học hiểu theo nghĩa chung nhất là vẻ đặc thù trong những tác phẩm của nhà văn hoặc của một nhóm nhà văn, vẻ đặc thù này được quy định bởi những quan điểm chung về cuộc sống và thể hiện trong những đặc điểm có tính chất đặc trưng về nội dung và hình thức của những tác phẩm ấy” [3, Ở góc độ khái quát, Ya. Elxberg cho rằng “Phong cách biểu hiện sự toàn vẹn của hình thức có tính nội dung được hình thành trong sự phát triển, trong tác động qua lại và trong sự tổng hợp các yếu tố của hình thức nghệ thuật, dưới ảnh hưởng của đối tượng và nội dung tác phẩm, của thế giới quan nhà văn và của phương pháp của ta vốn thống nhất với thế giới quan. Phong cách được hình thành từ tất cả những yếu tố ấy, nảy sinh từ chúng mà ra. Phong cách - đó là sự thống trị của hình thức nghệ thuật, là sức mạnh tổ chức của nó.” [3, Với nhà lí luận, phê bình Khrapchenko - người đã dành nhiều thời gian công sức nghiên cứu về phong cách học thì cho rằng “Mỗi một nhà văn có tài đều đi tìm những biện pháp và những phương tiện độc đáo để thể hiện những tư tưởng và hình tượng của mình, những biện pháp và những phương tiện cho phép nhà văn đó làm cho những tư tưởng và những hình tượng ấy trở nên hấp dẫn, dễ lôi cuốn, gần gũi với công chúng độc giả. Và điều đó có nghĩa là nhà văn đã tạo được phong cách của mình. Nếu như dùng một công thức vắn tắt thì phong cách cần phải được định nghĩa như phương thức biểu hiện cách chiếm lĩnh hình tượng đối với cuộc sống, như phương thức thuyết phục và thu hút độc giả” [3, Bàn về những yếu tố làm nên phong cách của nhà văn, Khrapchenko còn cho rằng yếu tố tư liệu và cách xử lí tư liệu cũng giữ vai trò quan trọng. “Phong cách không chỉ được hình thành dưới tác động của đối tượng sáng tác, của tư liệu hiện thực mà còn tích cực tổ chức nên tư liệu đó... Đặc điểm của người nghệ sĩ điêu luyện là biết sắp xếp tổ chức tư liệu, biết tách cái chủ yếu ra khỏi cái ngẫu nhiên, biết khắc phục sự chống đối của tư liệu. Cùng với tư tưởng chung, phong cách cũng có sứ mệnh kết hợp lại lại một chỉnh thể năng động những yếu tố không thuần nhất có trong tư liệu của cuộc sống, trong đối tượng sáng tác” [3, Có thể khẳng định rằng, mặc dù ra đời từ rất sớm nhưng phong cách học chỉ thực sự trở thành một lĩnh vực khoa học nghiên cứu văn học vào thế kỉ XIX. Và với sự nỗ lực tìm kiếm, định hình một dòng, một khuynh hướng nghiên cứu văn học mới, các nhà lí luận phê bình đã tạo được một cơ sở lí luận cho phong cách học. Tuy vẫn còn nhiều những ý kiến Ý kiến trao đổi Nguyễn Huy Phòng _____________________________________________________________________________________________________________ 177 chưa thống nhất trong việc xác định nội hàm, phương pháp, đối tượng nghiên cứu..., nhưng những phát biểu có tính chất khoa học và sự vận dụng có hiệu quả của phong cách học đã góp phần tạo nên những chuyển biến tích cực trong đời sống văn học ở các nước trên thế giới. 4. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phong cách học ở Việt Nam Sau một thời gian dài kể từ khi Việt Nam mở cửa, tiếp xúc với văn hóa, văn học phương Tây những năm đầu thế kỉ XX, thuật ngữ phong cách học mới được đề cập và xuất hiện lần đầu tiên trong công trình nghiên cứu Thơ Hồ Xuân Hương Nxb Văn học, 1968 của Nguyễn Lộc. Trong công trình này, thuật ngữ phong cách trong phê bình văn học được nêu ra khi nhà nghiên cứu nhận thấy tiêu chí phân biệt thơ Hồ Xuân Hương đích thực và lộn sòng theo “mức độ và tính chất dâm tục” của nhà phê bình Trần Thanh Mại là không thỏa đáng, và ông đề nghị cần phải phân biệt theo phong cách. Tiếp đó trong bài viết “Suy nghĩ về phong cách lớn và phân kì lịch sử văn học Việt Nam” của Đỗ Đức Hiểu in trên Tạp chí Văn học số 3 năm 1985, ông đã đề xuất tiêu chí phân kì các giai đoạn lịch sử văn học cần phải căn cứ vào sự xuất hiện của các tài năng văn học, các nhà nhà văn lớn. Thông qua các tác phẩm có giá trị thời đại sẽ quyết định và chi phối đến đặc trưng và sự vận động, phát triển của cả một giai đoạn, thời kì văn học. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn vừa mang những đặc trưng, dấu ấn cá nhân riêng nhưng đồng thời cũng phản ánh những nét phổ quát của thời đại mình đang sống. Nét nổi bật đó tạo ra những phong cách lớn, tiêu biểu. Vì thế, khi phân chia các giai đoạn, thời kì văn học cần phải quan tâm theo những phong cách lớn. Còn Nguyễn Đăng Mạnh trong cuốn Nhà văn, tư tưởng và phong cách in lần đầu năm 1979, Nxb Tác phẩm mới cho rằng phong cách gắn liền với với cá tính sáng tạo của nhà văn, bởi “văn chương là một hình thái ý thức xã hội có đặc trưng riêng. Đây là lĩnh vực cần đến năng khiếu và tài nghệ, cần cá tính và phong cách” [5, Kế thừa tư tưởng, quan điểm của “Phong cách học chính là nghiên cứu sự phát triển của các phong cách cá nhân”, Nguyễn Đăng Mạnh đã triển khai, bổ sung khi cho ông cho rằng Đánh giá một nhà văn phải căn cứ vào ba tiêu chuẩn chính tư tưởng, tâm hồn lớn và có đóng góp đáng kể vào việc thúc đẩy tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, vì “nghiên cứu một nhà văn xét đến cùng là nghiên cứu tư tưởng của ông ta” [5, Ở một khía cạnh khác, nhà nghiên cứu Đào Thái Tôn trong công trình Thơ Hồ Xuân Hương từ cội nguồn vào thế tục Nxb Giáo dục, 1995 khi lí giải cơ sở để nữ sĩ Hồ Xuân Hương lựa chọn thể thơ Nôm truyền tụng đã viện dẫn đến phong cách Lưu hương kí... Nhưng phong cách ấy cụ thể như thế nào thì vẫn chưa được lí giải thấu đáo. Nhìn chung trong các công trình nghiên cứu chuyên biệt, các tác giả mới gọi tên của khuynh hướng phê bình mà chưa đưa ra được cơ sở lí luận cụ thể của phong cách học. Đôi khi còn bị nhầm lẫn Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 63 năm 2014 _____________________________________________________________________________________________________________ 178 giữa phong cách tác giả và phong cách tác phẩm. Phải đến khi biên soạn các cuốn Từ điển, các nhà nghiên cứu đã đưa thuật ngữ phong cách học để định danh và khẳng định đó là một lĩnh vực khoa học quan trọng trong nghiên cứu, phẩm bình văn chương. Cuốn 150 thuật ngữ văn học khẳng định “Những đặc điểm phong cách dường như hiện diện ở bề mặt tác phẩm, như là một sự thống nhất hiển thị và cảm giác được của tất cả các yếu tố chủ yếu thuộc hình thức nghệ thuật. Trong nghĩa rộng, phong cách là nguyên tắc xuyên suốt kiến trúc tác phẩm, khiến tác phẩm có tính chỉnh thể, có giọng điệu và màu sắc thống nhất rõ rệt” [1, Tiếp cận, tìm hiểu vấn đề phong cách học từ bình diện lí thuyết qua việc tham khảo các quan niệm, định nghĩa của các nhà nghiên cứu nước ngoài, Tôn Thảo Miên trong các bài viết “Về khái niệm phong cách cá nhân của nhà văn” Tạp chí Văn học số 1/1997, “Một số khuynh hướng nghiên cứu phong cách” Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 5/2006 cũng đã hệ thống lại một cách khái quát các vấn đề thuộc phạm trù nghiên cứu của phong cách học, như phong cách thời đại, cá tính sáng tạo của nhà văn, thế giới quan và tài năng, vấn đề bút pháp, vấn đề ngôn ngữ... Và cuối cùng tác giả đưa ra kết luận “Nhưng tựu trung lại, phong cách được hiểu là sự thống nhất trọn vẹn của nội dung và hình thức, nó tạo nên nét riêng độc đáo của mỗi tác phẩm, đồng thời cũng là nét riêng để phân biệt tác giả này với tác giả khác, thời đại này với thời đại khác” [6, Từ những vấn đề lí luận về phong cách, đặc biệt nhờ vận dụng lí thuyết ngữ học cấu trúc của Ferdinand de Saussure, tác giả Phan Ngọc trong công trình khoa học Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều viết xong năm 1965, in lần đầu năm 1985, Nxb Khoa học Xã hội đã trở thành người đầu tiên thực hành phê bình theo phong cách học ở Việt Nam. Trong lời nói đầu cuốn sách, ông đã đề cập thực trạng nghiên cứu theo phong cách học “Phong cách học, bộ môn của ngôn ngữ học để nghiên cứu phong cách còn gặp rất nhiều khó khăn. Các khái niệm làm cơ sở cho nó như phong cách, phong cách thể hoại, phong cách thời đại, phong cách tác giả, vẫn chưa được xác định một cách nhất quán. Phong cách học chưa xây dựng được cho mình một hệ thống thao tác có hiệu lực để khảo sát phong cách tác giả một cách khách quan Phong cách học đang thiếu một lí luận nhất quán để có thể khẳng định nó như là một khoa học thực sự” [8, Trước những khoảng trống về lí luận phong cách học, tác giả đã bước đầu đưa ra được những quan điểm và cách tiếp cận đối tượng một cách thuyết phục. Theo ông muốn nghiên cứu phong cách của một tác giả, người nghiên cứu cần phải - “Xây dựng lại các khái niệm của môn phong cách học; - Phải tìm ra được những đặc điểm tiêu biểu của tác giả đó về mặt nội dung không lặp lại ở người khác; - Tiếp cận tác phẩm một cách hình thức và chứng minh chính hình thức tác giả lựa chọn là thích hợp để diễn đạt nội Ý kiến trao đổi Nguyễn Huy Phòng _____________________________________________________________________________________________________________ 179 dung này.” [8, Cũng theo Phan Ngọc, “một nghệ sĩ chỉ vĩ đại khi anh ta có những đóng góp đặc biệt mà trong thời đại mình không ai làm được. Không những thế, những đóng góp của anh ta còn vượt xa ngoài thời đại, đến nỗi thời đại sau có thể bắt chước được, mà khó có thể vượt qua”, hay “chỉ nói lên được sự cống hiến nghệ thuật riêng của từng nhà văn, lịch sử văn học mới có sự phát triển thực sự văn học, chứ không phải là lịch sử của những con người làm văn học” [8, Sau khi xác định những thao tác nghiên cứu, tác giả đã đưa ra một định nghĩa về phong cách học “Phong cách học là khoa học khảo sát các kiểu lựa chọn và giá trị biểu cảm của các kiểu lựa chọn ấy” [8, Từ những lí thuyết đó, ông đi sâu vào tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, thực hiện một loạt đối lập Truyện Kiều với tất cả những gì liên quan đến Truyện Kiều trước đó để tìm ra những cái mới, những sáng tạo của thi hào Nguyễn Du trong kiến trúc câu thơ, trong ngôn ngữ, trong ngữ pháp. Tiếp sau cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Phan Ngọc tiếp tục ứng dụng những khái niệm, thao tác của phong cách học để tìm hiểu, lí giải các hiện tượng độc đáo của đời sống văn học. Trong cuốn Thử xét văn hóa, văn học bằng ngôn ngữ học Nxb Thanh niên, 2000, ông cũng đã có những kiến giải, phát hiện thú vị khi phân tích những chuyển biến của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân. Tiếp cận tác giả, tác phẩm qua phê bình phong cách học đã giúp Phan Ngọc đạt được nhiều thành công, tạo ra một hướng nghiên cứu mới đầy triển vọng. Nhưng theo nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy thì “Định nghĩa phong cách là sự lựa chọn của Phan Ngọc thật chặt mà cũng thật lỏng. Chặt, khi nhà phê bình xuất phát từ sự lựa chọn ngôn từ của tác giả đi đến sự lựa chọn thể loại, cốt truyện, chủ đề tư tưởng. Lỏng, khi người ta đi ngược lại hành trình này” [12, Là người theo đuổi và có nhiều công trình nghiên cứu về các khuynh hướng phê bình, xuất phát từ ý tưởng của Léo Spitzer 1887-1960 - nhà ngữ văn học, phong cách học người Đức, Đỗ Lai Thúy cho rằng Phong cách là sự lệch chuẩn. Nghĩa là mỗi thời đại văn hóa tạo ra một phong cách của mình, và mỗi nhà văn sống trong thời đại đó lại có phong cách riêng. Phong cách của họ chính là sự lệch so với cái chuẩn của thời đại. Từ những ý tưởng đó, trong chuyên luận Con mắt thơ Nxb Lao động, 1992, nhà nghiên cứu đã dựng nên chân dung sinh động của các nhà Thơ mới với những cá tính, phong cách riêng độc đáo làm nên cả một thời đại trong thi ca. Ông viết “mỗi nhà Thơ mới trước hết đều phải đạt đến phong cách thời đại để rồi chống lại nó thì mới tạo ra được phong cách riêng của mình. Sự chống lại càng quyết liệt bao nhiêu thì sáng tạo cá nhân, tức phong cách riêng càng nổi bật bấy nhiêu” [12, Tiếp sau đó, trong công trình Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực Nxb Văn hóa Thông tin, 1999, ông đã khắc phục được những hạn chế trong nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước khi nhiều người còn quá lệ thuộc vào công Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 63 năm 2014 _____________________________________________________________________________________________________________ 180 thức nổi tiếng của Buffon “Phong cách chính là con người” nên đã lẫn lộn phong cách tác giả và tác phẩm. Đỗ Lai Thúy đã tiếp cận vấn đề từ một hướng nghiên cứu mới đó là đi tìm sự lệch chuẩn ngôn ngữ để thấy được phong cách thơ Xuân Hương là một sự lệch chuẩn hoàn toàn so với phong cách Thanh Quan nói riêng và toàn bộ phong cách Đường thi nói chung... Song song với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước 1986, nền văn học nghệ thuật nước nhà cũng có nhiều bước đột phá, phát triển. Việc biên dịch, giới thiệu những lí thuyết, khuynh hướng mới trong lí luận phê bình trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ. Nghiên cứu, phê bình văn học theo phong cách học ngày càng được ứng dụng rộng rãi và phát huy được hiệu quả to lớn trong đời sống văn học. Điều đó được minh chứng trong các công trình nghiên cứu về phong cách học, các luận án tiến sĩ, thạc sĩ như Văn chương tài năng và phong cách Hà Minh Đức; Nhà văn tư tưởng và phong cách Nguyễn Đăng Mạnh; Nhà văn hiện thực đời sống và cá tính sáng tạo Trần Đăng Suyền; Văn chương và tác giả, Tài năng và bản lĩnh nghệ sĩ Nguyễn Ngọc Thiện; Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu Tôn Phương Lan, Lí luận và phê bình văn học Trần Đình Sử, Thi pháp hiện đại Đỗ Đức Hiểu Sự gia tăng, phát triển về số lượng các công trình khoa học có ứng dụng những thao tác, phương pháp của phong cách học, một mặt phản ánh ưu thế, triển vọng và tác dụng lớn của phong cách học trong việc đánh giá, thẩm bình các hiện tượng văn chương, mặt khác cũng phản ánh những nỗ lực của các nhà khoa học trong việc nghiên cứu, tìm hiểu và xây dựng một khung lí thuyết, lí luận cho ngành phong cách còn nhiều khoảng trống. Nhìn vào tên nhan đề, danh mục cũng như nội dung của từng chương, bài trong các công trình nghiên cứu trên, người đọc dễ dàng nhận thấy chưa có một công trình, một cuốn sách riêng bàn về phong cách học. Điều đó phản ánh một hạn chế trong nghiên cứu, phê bình theo phong cách học khi những tiêu chí định danh và những thao tác nghiên cứu vẫn chưa được tạo dựng một cách chặt chẽ, bài bản. 5. Kết luận Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy khi đánh giá về tình hình phê bình văn học theo phong cách học ở nước ta đã có lí khi cho rằng “Phê bình phong cách một tác phẩm hoặc một nhà văn chỉ bằng một vài nhận xét thì đã có nhiều. Nhưng phê bình phong cách học thì hãy còn là một con đường đang được khai phá. Và đi trên con đường này, lữ khách không chỉ bỏ lại đằng sau những các trang bị cũ, mà còn phải học hỏi và sử những công cụ mới. Đặc biệt là những thay đổi quan niệm về tác phẩm văn chương, về ngôn ngữ văn chương, về phong cách tác phẩm, tác giả và thời đại. Và, quan trọng hơn sau khi đã mô tả được phong cách như thế nào thì phải lí giải tại sao lại có phong cách ấy từ cái nhìn nghệ thuật và cái nhìn thế giới của nhà văn” [12, Phải chăng đó cũng là nỗi băn Ý kiến trao đổi Nguyễn Huy Phòng _____________________________________________________________________________________________________________ 181 khoăn chung và là nhiệm vụ lớn lao cao cả đang đặt ra cho các nhà lí luận phê bình có trách nhiệm, tài năng, tâm huyết trong việc xây dựng một bộ môn phê bình phong cách học để đáp ứng tốt những yêu cầu, đòi hỏi của đời sống văn học dân tộc hôm nay? TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Lại Nguyên Ân biên soạn 2004, 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 2. Đỗ Đức Hiểu 1985, “Suy nghĩ về phong cách lớn và phân kỳ lịch sử văn học”, Tạp chí Văn học, 3, 3. M. B. Khrapchenko 2002, Những vấn đề lí luận và phương pháp luận nghiên cứu văn học, nhiều người dịch, Trần Đình Sử tuyển chọn và giới thiệu, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 4. Nguyễn Lộc 1968, Thơ Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học. 5. Nguyễn Đăng Mạnh 2001, Nhà văn tư tưởng và phong cách, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 6. Tôn Thảo Miên 2006, “Một số khuynh hướng nghiên cứu phong cách”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, 5, 7. Tôn Thảo Miên 1997, “Về khái niệm phong cách cá nhân của nhà văn”, Tạp chí Văn học, 1, 8. Phan Ngọc 2003, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nxb Thanh niên. 9. Phan Ngọc 2000, Thử xét văn hóa, văn học bằng ngôn ngữ học, Nxb Thanh niên. 10. Đỗ Lai Thúy 1992, Con mắt thơ, Nxb Lao động. 11. Đỗ Lai Thúy 1999, Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực Nxb Văn hóa Thông tin. 12. Đỗ Lai Thúy 2011, Phê bình văn học con vật lưỡng thê ấy Tư tưởng phê bình văn học Việt Nam một cái nhìn lịch sử, Nxb Hội Nhà văn và công ti Nhã Nam. 13. Đào Thái Tôn 1995, Thơ Hồ Xuân Hương từ cội nguồn vào thế tục, Nxb Giáo dục. Ngày Tòa soạn nhận được bài 12-6-2014; ngày phản biện đánh giá 27-6-2014; ngày chấp nhận đăng 23-10-2014 Các file đính kèm theo tài liệu này Tải về bản PDF Tải về bản PDF Bài luận phê bình là bài phân tích các tác phẩm như một cuốn sách, một bộ phim, một bài báo hoặc một bức tranh. Bài phê bình nhằm mục đích phân tích một khía cạnh nào đó của tác phẩm hoặc đưa tác phẩm vào một bối cảnh rộng hơn. Ví dụ, bài phê bình một cuốn sách có thể tập trung vào giọng văn để xác định xem giọng văn đó ảnh hưởng đến ý nghĩa của cả tác phẩm như thế nào. Hoặc một bài bình luận phim có thể tập trung vào sự lặp đi lặp lại của một biểu tượng trong phim. Dù là phê bình khía cạnh nào, mỗi một bài phê bình cần có một luận điểm về tác phẩm và dẫn chứng trong tác phẩm để chứng minh cho phân tích của tác giả.[1] Hãy đọc tiếp để biết cách viết một bài luận phê bình. 1Hiểu rõ yêu cầu của đề bài. Ngay khi giáo viên giao đề, hãy đọc kỹ hướng dẫn và đánh dấu những chỗ bạn chưa hiểu. Yêu cầu giáo viên giải thích đề bài nếu cần.[2] 2 Đọc kỹ tác phẩm. Bài tập viết bài phê bình yêu cầu bạn đánh giá một quyển sách, một bài báo, một bộ phim, một bức tranh hoặc các loại tác phẩm khác. Để có thể đánh giá được các tác phẩm này, bạn cần làm quen với nguyên văn tác phẩm. Nắm rõ tác phẩm bằng cách đọc đi đọc lại. Nếu bạn được yêu cầu viết về những tác phẩm như một bộ phim hay một bức tranh, hãy xem bộ phim đó nhiều lần hoặc ngắm bức tranh đó từ nhiều góc độ và khoảng cách khác nhau. 3 Ghi chép trong khi đọc. Ghi chép trong khi đọc sẽ giúp bạn nhớ được các khía cạnh quan trọng của tác phẩm cũng như giúp bạn suy nghĩ sâu hơn về tác phẩm đó. Hãy nhớ một vài câu hỏi quan trọng trong đầu khi đọc và cố gắng trả lời những câu hỏi đó khi xem lại ghi chép của bạn.[3] Tác phẩm viết về vấn đề gì? Các ý chính nào được nêu ra trong tác phẩm? Trong tác phẩm có điều gì khó hiểu không? Mục đích của tác phẩm là gì? Tác phẩm có đạt được mục đích đó không? Nếu không thì tại sao và như thế nào?[4] Không tóm tắt lại nội dung - bạn phải thuộc nội dung của câu chuyện rồiHãy ghi lại những suy nghĩ dẫn dắt bài luận Ý của tác giả là gì? Điều đó có kết nối với điều gì khác không? 4 Xem lại ghi chép để tìm ra bố cục và xác định vấn đề. Sau khi đã hoàn thành việc đọc và ghi chép về tác phẩm, hãy đọc lại ghi chép để xem tác phẩm được trình bày theo bố cục nào và vấn đề nào là vấn đề nổi bật đối với bạn. Cố gắng tìm ra giải pháp cho một trong các vấn đề bạn tìm được. Ví dụ, bạn có thể thấy rằng Chí Phèo thật tâm có vẻ lương thiện hơn vẻ bề ngoài, hãy đưa ra một phỏng đoán có tính nhân văn xem tại sao lại như vậy. Bạn nên chọn giải pháp có thể dùng để phát triển thành trọng tâm của bài luận, tuy nhiên lưu ý rằng bạn chưa cần phải đưa ra luận điểm chắc chắn ngay lúc này. Khi bạn tiếp tục nghiên cứu tác phẩm, bạn sẽ dần tìm ra được trọng tâm và luận điểm cho bài phê bình của mình.[5] Không tự suy diễn ý đồ của tác giả Nam Cao tạo nên hình tượng một Chí Phèo xấu xí bởi vì...Hãy diễn đạt điều đó thành cách hiểu của riêng bạn Chí Phèo vốn được tạo hình xấu xí một phần để khắc họa nên cuộc sống khốn khổ của hắn, qua đó, làm nổi bật sự khắc nghiệt của xã hội bấy giờ. Quảng cáo 1 Tìm nguồn tham khảo thông tin nếu được yêu cầu. Nếu bạn được yêu cầu dùng các nguồn thông tin để viết bài phê bình, bạn sẽ cần thực hiện một vài nghiên cứu. Đọc kỹ hướng dẫn của đề bài hoặc hỏi giáo viên nếu bạn có thắc mắc về loại nguồn nào là nguồn thích hợp để dùng trong bài. Sách, bài viết trên các tạp chí học thuật và các trang mạng đáng tin là một số nguồn mà bạn có thể dùng. Dùng dữ liệu trong thư viện hơn là tìm kiếm trên mạng internet. Thư viện của trường thường cho phép truy cập vào nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau. Các cơ sở dữ liệu này này cung cấp miễn phí các bài báo và tài nguyên khác mà bạn không thể truy cập được bằng các công cụ tìm kiếm trên mạng. 2 Đánh giá nguồn để xác minh độ tin cậy. Bạn chỉ nên sử dụng những nguồn đáng tin cậy để viết một bài phê bình mang tính học thuật, nếu không bạn sẽ làm mất đi sự tin cậy của mình với vai trò là tác giả. Sử dụng nguồn dữ liệu của thư viện đảm bảo bạn sẽ tìm được nhiều nguồn đáng tin cho bài viết của mình. Dưới đây là một vài điểm bạn cần xem xét để xác minh một nguồn thông tin có đáng tin hay không.[6] Tác giả và minh chứng về tác giả”. Chọn những nguồn có ghi tên tác giả và cung cấp minh chứng về tác giả đó. Minh chứng cần chỉ ra các thông tin như người này có đủ thẩm quyền hay chuyên môn để phát biểu như một chuyên gia về lĩnh vực này không. Ví dụ, bài báo nói về một loại bệnh sẽ đáng tin cậy hơn nếu tác giả là một bác sĩ. Nếu nguồn bạn tìm được không ghi tên tác giả hoặc tác giả không có minh chứng là đủ thẩm quyền thì nguồn đó có thể không đáng tin cậy.[7] Trích dẫn”. Xem xét xem tác giả của nguồn thông tin có tiến hành nghiên cứu kỹ càng về chủ đề hay không. Kiểm tra tiểu sử của các tác giả hoặc tác phẩm được trích dẫn trong nguồn. Nếu tác giả không trích dẫn hoặc chỉ trích dẫn một vài nguồn thì nguồn thông tin này không đáng tin cậy.[8] Định kiến”. Xem xét xem tác giải có trình bày một cách khách quan, hợp lý về chủ đề hay không. Giọng điệu của tác giả có thường ưu tiên cho một mặt của vấn đề không? Lý lẽ tác giả đưa ra có thường xuyên bác bỏ hay coi nhẹ quan điểm hoặc lý lẽ đối lập không? Nếu có, thì nguồn này không phải là một lựa chọn tốt.[9] Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng bộ môn phê bình văn học thường thể hiện quan điểm riêng của người viết chỉ sau một lần đọc; điều này thường không được coi là có thành kiến vì bản chất của lĩnh vực nghiên cứu văn học này vốn là chủ quan.Không đánh giá thấp một tác giả chỉ vì họ ủng hộ một quan điểm nào bám sát luận điểm của họ với con mắt phân tích và tận dụng những luận cứ vững chắc. Ngày xuất bản”. Cân nhắc xem nguồn này có cập nhật các thông tin mới nhất về chủ đề không. Ngày xuất bản đặc biệt quan trọng khi nghiên cứu về các chủ đề khoa học vì những công nghệ và phương pháp mới có thể đã chứng minh những phát kiến trước đó không hợp lý.[10] Thông tin được cung cấp”. Nếu bạn vẫn nghi ngờ về độ tin cậy của một nguồn nào đó, hãy kiểm tra chéo một số thông tin mà nguồn đó cung cấp với một nguồn mà bạn tin tưởng. Nếu thông tin mà tác giả đưa ra mâu thuẫn với thông tin trong nguồn mà bạn tin tưởng thì nguồn đó không đáng tin cậy để đưa vào bài viết.[11] 3Đọc nghiên cứu. Khi bạn đã thu thập được tất cả các nguồn thông tin cần thiết, bạn cần dành thời gian đọc chúng. Sử dụng phương pháp đọc giống như khi bạn đọc nguyên văn tác phẩm. Đọc các nguồn thông tin bạn được tìm nhiều lần và đảm bảo bạn hiểu chúng một cách thấu đáo. 4 Ghi chép khi đọc. Tô đậm hoặc gạch chân những đoạn văn quan trọng để bạn dễ dàng tìm đọc lại chúng. Khi đọc, bạn cũng nên ghi lại các thông tin đáng chú ý vào muộn cuốn sổ. Ghi rõ bạn đã trích dẫn nguyên văn thông tin từ nguồn nào bằng cách đặt thông tin đó vào trong dấu ngoặc kép, ghi chú các thông tin về nguồn trích dẫn như tên tác giả, tác phẩm và số trang. Không nhấn mạnh một đoạn nào đó chỉ vì nó có vẻ quan trọng hoặc có ý mạnh những đoạn văn củng cố hoặc làm yếu đi luận điểm của bạn. Quảng cáo 1 Xây dựng quan điểm. Khi bạn đã xây dựng được quan điểm của mình về tác phẩm gốc và đã đọc tác phẩm gốc, bạn sẽ sẵn sàng cho việc viết luận điểm.[12] Luận điểm tốt là luận điểm thể hiện được nội dung trọng tâm của bài viết và nêu ra quan điểm của tác giả. Bạn có thể trình bày luận điểm bằng nhiều câu, câu thứ nhất đưa ra quan điểm chung và câu thứ hai thu hẹp lại thành một quan điểm cụ thể hơn.[13] Đảm bảo luận diểm cung cấp đủ thông tin. Hay nói cách khác, tránh nói đơn giản một điều gì đó “tốt” hoặc “hiệu quả”, hãy nói cụ thể vì sao điều đó “tốt” hay “hiệu quả”.[14] Đặt luận điểm ở cuối đoạn văn đầu tiên nếu giáo viên của bạn không yêu cầu đặt luận điểm ở vị trí khác. Cuối đoạn văn đầu tiên là vị trí truyền thống để trình bày luận điểm trong các bài luận học thuật. Ví dụ, đây là một luận điểm có nhiều câu về hiệu quả và mục đích của bộ phim “Max điên cuồng Con đường tử thần” “Rất nhiều bộ phim hành động đều có chung một mô-típ Một nam anh hùng thường đẹp trai, da trắng đi theo niềm tin vào số mệnh và ra lệnh cho những người khác, hoặc là nghe theo anh ta hoặc là chết. “Mad Max Con đường tử thần” đạt được hiệu quả khi đi ngược lại với mô-típ trên. Thay vì đi theo diễn biến quen thuộc, bộ phim đưa vào nhiều anh hùng, trong đó có nhiều nữ anh hùng, thách thức chuẩn mực lâu đời của các bộ phim bom tấn mùa hè trong làng phim Hollywood”.Không đưa ra những thông tin hiển nhiên Mad Max được đạo diễn bởi George Miller hoặc ý kiến chủ quan Mad Max là bộ phim hay nhất năm 2015.[15] Hãy thể hiện luận điểm mà bạn có thể củng cố bằng luận cứ. 2 Lập dàn ý dựa trên ghi chép. Lập dàn ý trước khi viết nháp để tổ chức thông tin hiệu quả hơn. Dàn ý có thể chi tiết hoặc không chi tiết. Càng nhiều chi tiết được đưa vào dàn ý thì bạn càng chuẩn bị tốt cho bài viết của mình.[16] Bạn có thể xây dựng dàn ý sử dụng gạch đầu dòng bằng số la mã, chữ số và chữ cái. Hoặc bạn có thể sử dụng dàn ý dạng sơ đồ tư duy để tìm kiếm và tập trung ý tưởng trước khi hoàn thiện phát triển ý. 3 Mở bài bằng một câu đi thẳng vào chủ đề. Chủ đề nên được giới thiệu luôn ở phần mở đầu. Dùng các ý chính bạn sẽ triển khai trong bài để giúp bạn xác định cần đưa thông tin nào vào phần này. Phần mở bài luôn luôn giới thiệu ý chính và cái nhìn toàn cảnh về nội dung của cả bài. [17] Không mở đầu bằng những cụm từ sáo rỗng như Trong xã hội ngày nay..., Trong suốt lịch sử..., Ai đó đã nói rằng....Hãy mở đầu bằng một thực tế thu hút, một giai thoại hoặc một cách viết gây chú ý nào đó với nội dung liên quan.[18] Một số kỹ thuật viết mở bài khác bao gồm sử dụng một chi tiết cụ thể để gợi lên quan điểm lớn hơn; đặt câu hỏi mà bài luận của bạn đưa ra câu trả lời, hoặc đưa vào một thông tin hấp dẫn.[19] 4 Cung cấp thông tin nền. Cung cấp đủ thông tin nền hay ngữ cảnh để hỗ trợ người đọc. Cân nhắc và cung cấp trong đoạn mở đầu các thông tin mà người đọc cần biết để hiểu được bài luận của bạn. Thông tin nền sẽ rất đa dạng phụ thuộc vào loại tác phẩm mà bạn phê bình.[20] Không tóm tắt lại các phần nội dung không liên quan tới bài viết phần mở bài sao cho phù hợp với độc giả. Một hội nghị gồm các giáo sư dạy môn Anh ngữ sẽ cần ít thông tin bổ sung hơn so với độc giả của các blog trên mạng. Nếu bạn phê bình một cuốn sách, hãy cung cấp tên tác phẩm, tác giả và tóm tắt cốt truyện. Nếu bạn viết về một bộ phim, hãy nói ngắn gọn về nội dung. Nếu bạn viết về một bức họa, hãy miêu tả khái quát. Luôn ghi nhớ thông tin nền phải hướng đến luận điểm. Cung cấp những gì người đọc cần biết để hiểu về chủ đề và thu hẹp thông tin để giới thiệu luận điểm.[21] 5 Dùng các đoạn trong phần thân bài để thảo luận từng phần của tác phẩm. Thay vì nói về nhiều khía cạnh của tác phẩm trong một đoạn văn, mỗi đoạn chỉ nên tập trung vào một phương diện. Mỗi phương diện đều hướng đến làm rõ cho luận điểm.[22] For each body paragraph, you should do the following Đưa ra ý chính ở đầu đoạn văn. Chứng minh ý chính bằng ít nhất một ví dụ từ nguyên văn tác phẩm. Chứng minh ý chính bằng ít nhất một ví dụ từ các nguồn khác. 6 Xây dựng phần kết bài. Kết bài cần làm nổi bật quan điểm bạn trình bày trong bài.[23] Trước khi bạn viết phần kết bài, dành thời gian xâu chuỗi lại các ý bạn đã viết và xác định hướng kết bài tốt nhất. Có nhiều cách kết bài khác nhau mà bạn có thể chọn. Ví dụ, bạn có thể Tóm tắt và nhắc lại ý chính. Nêu ra sự ảnh hưởng của chủ đề tới người đọc. Chủ đề có thể được đưa vào bối cảnh hay nhận xét rộng hơn như thế nào. Kêu gọi hành độnghoặc các nghiên cứu sâu hơn. Nêu ra những vấn đề mới có thể phát triển từ chủ lặp lại các điểm mà bạn đã nêu trước nhắc tới các điểm trước đó và kết nối chúng thành một luận điểm duy nhất. Quảng cáo 1 Nghỉ một vài hôm trước khi đọc lại bản nháp. Việc nghỉ ngơi sẽ giúp não bộ làm việc tốt hơn. Khi bạn quay lại với bản nháp, bạn sẽ có một cái nhìn hoàn toàn mới. Viết bài trước để có thể dành ra vài ngày hoặc thậm chí một tuần để kiểm tra bài trước khi hến hạn. Nếu bạn không chuẩn bị đủ thời gian bạn sẽ dễ mắc những lỗi đơn giản và dễ bị mất điểm. 2 Dành thời gian xem lại và làm rõ các ý khó hiểu. Khi kiểm tra lại bài cần kiểm tra trên nhiều phương diện để đảm bảo người đọc hiểu hết các ý bạn muốn trình bày. Cân nhắc một số câu hỏi sau Ý chính của bạn là gì? Bạn có thể làm rõ ý chính bằng cách nào? Người đọc là ai? Bạn đã cân nhắc nhu cầu và yêu cầu của họ chưa? Mục đích của bạn là gì? Bài luận này đã hoàn thành được mục đích đó chưa? Dẫn chứng bạn đưa ra có thuyết phục không? Bạn có thể củng cố dẫn chứng bằng cách nào? Các phần trong bài có tập trung phát triển luận điểm không? Bạn có thể tăng cường tính liên kết bằng cách nào? Ngôn ngữ và bố cục có gì khó hiểu không? Bạn có thể làm rõ ngôn ngữ và bố cục như thế nào? Bạn có mắc các lỗi về ngữ pháp, dấu câu hay chính tả không? Nếu có thì sửa như thế nào? Người khác có thể có quan điểm nào trái với quan điểm của bạn? Bạn bác bỏ quan điểm của họ trong bài luận bằng cách nào?[24] 3 Hoàn thiện bài viết bằng việc kiểm tra kỹ lỗi chính tả trên bản cứng. Đọc to bài viết để đảm bảo bạn đã sửa hết các lỗi đánh máy, lỗi ngữ pháp, lỗi dùng từ, đặt câu và các lỗi khác. Dù phát hiện ra một lỗi nhỏ cũng nên sửa, in lại trước khi nộp. Nếu bạn nộp bản mềm bài viết qua email, hãy hỏi giáo viên các yêu cầu về định dạng. Bạn có thể lưu dưới dạng tệp PDF để đảm bảo định dạng bài làm không bị mất. Quảng cáo Lời khuyên Nhờ bạn bè, người thân hoặc người quen kiểm tra lỗi chính tả và nhận xét bài viết. Các nhà văn chuyên nghiệp đọc lại bản thảo của họ nhiều lần và bạn cũng nên làm như vậy. Sẽ dễ hơn nếu bạn viết dàn ý cho phần mở bài và quay lại viết hoàn thiện sau khi đã viết các phần tiếp theo. Nếu bạn thấy bí khi viết mở bài, cứ để đó và viết sau. Viết theo cách của bạn. Ví dụ, nhiều người cần viết dàn ý nhưng người khác lại cho rằng dàn ý hạn chế khả năng viết của họ. Hãy tìm ra quy trình viết phù hợp cho riêng bạn. Lưu ý cách dùng từ. Nên dùng đúng những từ bạn biết thay vì để nghe học thuật hơn mà dùng sai những từ bạn không biết. Bắt đầu viết sớm nhất có thể. Bạn sẽ viết bài tốt hơn và ít bị stress khi dành thời gian viết bài đều đặn trong suốt khóa học hơn là viết gấp rút trong một thời gian ngắn. Thu hẹp chủ đề trong quá trình viết. Nhiều sinh viên mắc sai lầm khi chọn chủ đề quá rộng với suy nghĩ là chủ đề rộng sẽ có nhiều thứ để viết. Thực ra thì chọn một chủ đề hẹp sẽ dễ viết hơn. Ví dụ, viết về vấn đề chiến tranh đúng hay sai gần như là không thể. Ngược lại, nếu viết về việc có nên phản đối một cuộc chiến tranh cụ thể không sẽ dễ dàng hơn. Nếu gặp khó khăn với việc xây dựng bố cục, hãy viết dàn ý dựa trên câu chủ đề của các đoạn văn. Trong dàn ý hãy viết một câu miêu tả mối quan hệ giữa các câu chủ đề. Nếu bạn không thể đưa mối quan hệ này một cách nhanh chóng thì các đoạn văn của bạn chưa được sắp xếp đúng trình tự và cần được sắp xếp lại. Bạn sẽ không có đủ thời gian để đọc hết cả mười hay mười hai cuốn sách về chủ đề của mình. Hãy sử dụng mục lục để tìm đọc các chương quan trọng nhất. Cảnh báo Viết bài kiểu nước đến chân mới nhảy sẽ mắc nhiều lỗi diễn đạt và lỗi ngữ pháp. Giáo viên của bạn đã đọc hàng trăm thậm chí hàng nghìn bài luận của sinh viên nên có thể dễ dàng nhận ra bạn có đợi đến phút cuối mới viết bài hay không. Ghi nguồn thông tin mà bạn dùng bao gồm các trích dẫn, số liệu, khái niệm lý thuyết chính xác nhất có thể. Nếu không chắc chắn thì lỗi sai về mặt trích dẫn vẫn có thể chấp nhận được còn không trích dẫn có thể sẽ bị coi là đạo văn. Về bài wikiHow này Trang này đã được đọc lần. Bài viết này đã giúp ích cho bạn? Một đánh giá tài liệu tóm tắt và tổng hợp các nghiên cứu học thuật hiện có về một chủ đề cụ thể. Bài phê bình văn học là một dạng bài viết học thuật thường được sử dụng trong các ngành khoa học, khoa học xã hội và nhân văn. Tuy nhiên, không giống như các tài liệu nghiên cứu, thiết lập các lập luận mới và đóng góp ban đầu, các bài phê bình tài liệu tổ chức và trình bày các nghiên cứu hiện có. Là một sinh viên hoặc học giả, bạn có thể viết một bài phê bình tài liệu dưới dạng một bài báo độc lập hoặc như một phần của một dự án nghiên cứu lớn hơn. Để hiểu các bài phê bình văn học, tốt nhất trước tiên bạn nên hiểu chúng không phải là gì . Đầu tiên, các bài phê bình văn học không phải là thư mục. Thư mục là danh sách các nguồn được tham khảo khi nghiên cứu một chủ đề cụ thể. Các bài phê bình văn học không chỉ liệt kê các nguồn mà bạn đã tham khảo chúng tóm tắt và đánh giá một cách nghiêm túc các nguồn đó. Thứ hai, các bài phê bình văn học không được chủ quan. Không giống như một số "bài phê bình" nổi tiếng khác ví dụ như bài phê bình nhà hát hoặc sách, bài phê bình văn học tránh các tuyên bố quan điểm. Thay vào đó, họ tổng kết và đánh giá một cách có phê bình một bộ phận văn học bác học từ một góc độ tương đối khách quan. Viết một bài phê bình tài liệu là một quá trình nghiêm ngặt, đòi hỏi sự đánh giá kỹ lưỡng về chất lượng và kết quả của từng nguồn được thảo luận. Tại sao nên viết một bài phê bình văn học? Viết một bài phê bình văn học là một quá trình tốn nhiều thời gian, đòi hỏi nghiên cứu sâu rộng và phân tích phê bình . Vì vậy, tại sao bạn nên dành quá nhiều thời gian để xem xét và viết về nghiên cứu đã được xuất bản? Biện minh cho nghiên cứu của riêng bạn . Nếu bạn đang viết một bài phê bình tài liệu như một phần của một dự án nghiên cứu lớn hơn , thì bài phê bình tài liệu cho phép bạn chứng minh điều gì làm cho nghiên cứu của riêng bạn có giá trị. Bằng cách tóm tắt các nghiên cứu hiện có về câu hỏi nghiên cứu của bạn, một đánh giá tài liệu cho thấy những điểm đồng thuận và điểm không đồng ý, cũng như những khoảng trống và câu hỏi mở vẫn còn. Có lẽ, nghiên cứu ban đầu của bạn đã xuất hiện từ một trong những câu hỏi mở đó, do đó, bài đánh giá tài liệu đóng vai trò là điểm khởi đầu cho phần còn lại của bài báo của bạn. Chứng minh chuyên môn của bạn. Trước khi bạn có thể viết một bài phê bình văn học, bạn phải đắm mình trong một cơ quan nghiên cứu quan trọng. Vào thời điểm bạn viết bài đánh giá, bạn đã đọc nhiều về chủ đề của mình và có thể tổng hợp và trình bày thông tin một cách hợp lý. Sản phẩm cuối cùng này thiết lập bạn như một cơ quan đáng tin cậy về chủ đề của bạn. Tham gia cuộc trò chuyện . Tất cả các bài viết học thuật là một phần của một cuộc trò chuyện không bao giờ kết thúc một cuộc đối thoại liên tục giữa các học giả và nhà nghiên cứu trên khắp các lục địa, nhiều thế kỷ và các lĩnh vực chủ đề. Bằng cách tạo ra một bài phê bình tài liệu, bạn đang tương tác với tất cả các học giả trước đây, những người đã xem xét chủ đề của bạn và tiếp tục một chu trình chuyển lĩnh vực này về phía trước. Mẹo viết một bài phê bình văn học Mặc dù các hướng dẫn về phong cách cụ thể khác nhau giữa các bộ môn, nhưng tất cả các bài phê bình tài liệu đều được nghiên cứu và tổ chức tốt. Sử dụng các chiến lược sau đây làm hướng dẫn khi bạn bắt tay vào quá trình viết. Chọn một chủ đề với một phạm vi hạn chế. Thế giới nghiên cứu học thuật rất rộng lớn, và nếu bạn chọn một chủ đề quá rộng, quá trình nghiên cứu sẽ dường như không bao giờ kết thúc. Chọn một chủ đề có trọng tâm hẹp và cởi mở để điều chỉnh nó khi quá trình nghiên cứu bắt đầu. Nếu bạn thấy mình sắp xếp hàng nghìn kết quả mỗi khi tiến hành tìm kiếm cơ sở dữ liệu, bạn có thể cần phải tinh chỉnh thêm chủ đề của mình . Ghi chú có tổ chức. Các hệ thống tổ chức như lưới tài liệu rất cần thiết để theo dõi các kết quả đọc của bạn. Sử dụng chiến lược lưới, hoặc một hệ thống tương tự, để ghi lại thông tin chính và các phát hiện / lập luận chính cho mỗi nguồn. Khi bạn bắt đầu quá trình viết, bạn sẽ có thể tham khảo trở lại lưới tài liệu của mình mỗi khi bạn muốn thêm thông tin về một nguồn cụ thể. Chú ý đến các mẫu và xu hướng . Khi bạn đọc, hãy chú ý đến bất kỳ mẫu hoặc xu hướng nào xuất hiện trong số các nguồn của bạn. Bạn có thể phát hiện ra rằng có hai trường phái suy nghĩ rõ ràng hiện có liên quan đến câu hỏi nghiên cứu của bạn. Hoặc, bạn có thể phát hiện ra rằng những ý tưởng phổ biến về câu hỏi nghiên cứu của bạn đã thay đổi đáng kể vài lần trong một trăm năm qua. Cấu trúc của bài phê bình tài liệu của bạn sẽ dựa trên những mẫu bạn khám phá. Nếu không có xu hướng rõ ràng nào nổi bật, hãy chọn cơ cấu tổ chức phù hợp nhất với chủ đề của bạn, chẳng hạn như chủ đề, vấn đề hoặc phương pháp nghiên cứu. Viết một bài phê bình văn học cần có thời gian, sự kiên nhẫn và rất nhiều trí lực. Khi bạn nghiền ngẫm vô số bài báo học thuật, hãy xem xét tất cả các nhà nghiên cứu đi trước bạn và những người sẽ theo dõi. Bài đánh giá tài liệu của bạn không chỉ là một bài tập thông thường đó là một đóng góp cho tương lai lĩnh vực của bạn. 1. Dẫn nhập 2. Phê bình Mới Anh Mỹ 3. Phê bình Xã hội học 4. Phê bình Phân tâm học 5. Phê bình Nữ quyền luận 6. Phê bình Hậu thực dân I. PHÊ BÌNH MỚI ANH MỸ NEW CRITICISM IN ENGLAND &AMERICA Phê bình Mới Anh Mỹ là gì? - Là một trường phái phê bình có vai trò hàng đầu trong môi trường học thuật ở Anh Mỹ từ những năm 20 đến những năm 60 của thế kỷ XX. - Tập trung khám phá văn bản trên mối quan hệ hữu cơ giữa hình thức và ý nghĩa, không coi trọng các yếu tố nằm ngoài văn bản. -Đặc biệt chú ý thể loại thơ ca. -Tựa trên thành tựu tu từ học, thi pháp học, ngôn ngữ học. - Xác lập những phương pháp Đọc kỹ Close -Reading. -Khái niệm Phê bình mới xuất hiện từ một bài giảng của Joel Elias Spingarn The New Criticism A Lecture Delivered at Columbia University, 9 - 3 -1910 và tên cuốn sách New Criticism của John Crowe Ransom năm 1941. Các thuật ngữ chính Key terms - Hàm hồ Ambiguity - Nghịch lý Paradox - Chủ đề Theme - Cốt truyện Plot - Tính trớ trêu Irony độ chênh giữa điều được nói và điều được ám chỉ, giữa nghĩa đen và nghĩa bóng. - Độ căng Tension - Điểm nhìn Point of view - Dạng mẫu âm thanh patterns of sound - Cấu trúc tự sự narrative structure - Văn bản dị ngữ heteroglossic - Phép chuyển nghĩa [trope] - Các biện pháp tu từ hình ảnh image, ẩn dụ metaphor, biểu tượng symbol, nhịp điệu rhythm … - Lầm lẫn về ý định Intentional Fallacy đánh đồng bài thơ với ý đồ của tác giả. - Lầm lẫn về cảm thụ Affective Fallacy nhầm lẫn ý nghĩa của văn bản với tác động cảm xúc của nó lên độc giả. - Dị biệt về diễn giải Heresy of Paraphrase khi giải thích một bài thơ, việc tóm tắt chi tiết hoặc diễn xuôi thường làm sai lệch văn bản. - Đọc kỹ Đọc gần, Đọc tỉ mỉ Close -Reading /Micro – lecture Đọc tập trung một văn bản, phân tích, lý giải hình thức của văn bản trong mối quan hệ với ý nghĩa. 1. 3. Phương pháp Đi tìm mối quan hệ giữa tư tưởng của văn bản và hình thức của nó. cấp của Đọc kỹ Đọc kỹ có bốn cấp - Cấp 1 Đọc từ vựng và ngữ pháp chú ý các khía cạnh của từ vựng, ngữ pháp và cú pháp, con số của bài diễn văn hay bất kỳ tính năng khác đóng góp cho phong cách cá nhân của nhà văn. Miêu tả hiện tượng. - Cấp 2 Đọc ngữ nghĩa khảo sát về ý nghĩa các từ những thông tin mà bài thơ mang đến. Nhận thức về ý nghĩa. - Cấp 3 Đọc kết cấu Khảo sát các mối quan hệ giữa các từ và các ý nghĩa trong văn bản. Phân tích kiểm tra, sàng lọc, đánh giá - Cấp 4 Đọc văn hóa Khảo sát mối quan hệ của các yếu tố bất kỳ của văn bản với những yếu tố bên ngoài nó văn bản khác của cùng tác giả, hoặc những bài viết khác của cùng loại của các nhà văn khác nhau; các yếu tố của lịch sử xã hội, văn hóa, triết học, tâm lý học. Lý giải 1. Các bước của Đọc kỹ - Khởi đầu đọc vài lần văn bản nắm nghĩa chung. Lập danh sách các yếu tố khảo sát. Với bút chì và văn bản đánh dấu các yếu tố cần chú ý. - Xác định nghĩa của từ, nắm bắt những từ khác lạ, từ khóa. Phân tích mối quan hệ của các từ trong câu lặp, tương đồng, đối nghịch. Lý giải sự lựa chọn của tác giả về các từ có tính cá nhân thế nào? tại sao? - Khảo sát cấu trúc văn bản triển khai thế nào ý tưởng, kết cấu - Khảo sát âm thanh và nhịp điệu các yếu tố này tác động đến ý nghĩa thế nào? Có thể dùng các khái niệm thi pháp học và tu từ học để phân tích. Khảo sát các hình thái diễn ngôn so sánh, ẩn dụ, hình ảnh, biểu tượng. - Khảo sát câu các loại câu, trật tự của câu, nhịp điệu của câu. Chú ý khoảng lặng, độ ngưng, các nghịch đảo, song song, lặp lại... Phân tích các yếu tố làm nên tính mơ hồ, đa nghĩa. - Khảo sát văn cảnh Phân tích - Khảo sát tính chất trớ trêu của văn bản - Khảo sát giọng điệu của nhân vật, người tường thuật, tác giả quan hệ giữa các yếu tố đó kiến thức tự sự học. Phân tích giọng điệu, phong cách. Tìm ra sự lựa chọn của tác giả trong sự kết hợp của tất cả các yếu tố nói trên để tạo ra một văn bản độc đáo. - Khảo sát các biện pháp tu từ đã sử dụng ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, hình tượng, biểu tượng… - Khảo sát chủ đề Phát hiện hệ thống chủ đề - Phát hiện giới tính của văn bản - Xác định cốt truyện - Xác lập một đề tài để viết về văn bản, chọn chìa khóa để mở cánh cửa vào văn câu hỏi thường gặp với người đọc Phê bình Mới -Tính hàm hồ của ngôn ngữ? Kết cấu ngôn ngữ? Các tiềm năng liên tưởng của ngôn ngữ văn chương? - Các thủ pháp văn chương đặc thù? Hàm ý của các thủ pháp này? - Phép điệp, phép so sánh, phép liệt kê, phép chơi chữ?phép chuyển nghĩa [trope]? Phép gián cách hay tạo cự ly? Các mệnh đề song song? Các nhịp điệu, vần? - Các nghịch lý về ý nghĩa và từ ngữ? -Những mỉa mai? mâu thuẫn? - Hiệu ứng của hình thức? - Các hình thức bất thường của câu? - Những mù mờ confusion về quy chiếu? - Những chuyển động trong văn bản? - Hệ thống hình tượng? Hệ thống ẩn dụ? Hệ thống biểu tượng? - Các thiết kế tự sự? Câu chuyện được kể ra như thế nào? - Mạch văn bản? Tuyến trần thuật? -Tác phẩm bắt đầu từ đâu? kết thúc thế nào? - Cách quan sát và miêu tả ? - Quan hệ giữa chủ thể và đối tượng? - Hành trình ý thức? khách quan? chủ quan? - Hiệu ứng lạ hóa? Có sự phá vỡ “tầm đón đợi” không? - Các chủ đề được phát ngôn như thế nào? Chủ đề then chốt của tác phẩm nằm ở đâu? Độ căng của chủ đề? - Các môtip giới thiệu trực tiếp/ gián tiếp - Vai trò giải trung tâm của nhân vật? - Các cuộc đối thoại có những ý nghĩa gì? - Các loại ý nghĩa? Nghĩa thông thường/ nghĩa hiển ngôn/ nghĩa đặc thù/ nghĩa tiềm ẩn nghĩa riêng? -Ý nghĩa xã hội khác nhau trong nhân vật? Giải mã những suy nghĩ của nhân vật? - Kỹ thuật xây dựng vở kịch? Diễn tiến của kịch? Hậu trường của cuộc đối thoại? Các ý định bị che giấu? -Văn bản có tập hợp ở trong mình nhiều dạng thức ngôn ngữ không? Văn bản dị ngữ -heteroglossic - Phong cách ngôn ngữ của nhân vật riêng/ chung? - Sắc thái diễn ngôn? uy quyền? mềm mỏng? biến hóa? đơn nghĩa và độc thoại - Có trích dẫn hoặc phong cách hóa và quy chuẩn hóa một diễn ngôn khác không? Ý nghĩa của việc đối thoại hóa dialogization? Những động thái đối thoại hóa? -Những từ ngữ hay hình ảnh đặc thù được dùng để thể hiện các ý nghĩa phổ quát? -Ngôn ngữ và ý nghĩa, tinh thần và vật chất, nội dung và hình thức, cái đặc thù và cái phổ quát… tương hợp, dung hòa với nhau như thế nào? -Có hòa giải thành công giữa những điều trái ngược? “Hòa điệu của những xung khắc” cái phổ quát và cái đơn nhất? Các ý nghĩa phổ quát và những nét đặc thù cụ thể?... -Những hình tượng trong tương quan với vẻ ngoài? - Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên? - Tính chất của chủ thể? - Tính chất bất ổn của tri giác? - Tính nước đôi của bài thơ? - Tính chất phân mảnh thời gian, không gian, ý nghĩa… - Ký ức và trí tưởng tượng? - Các dạng ý nghĩa tôn giáo, văn hóa, chính trị… .... cầu -Tiếp cận sâu về văn bản trong khả năng cao nhất. - Lập một hê thống câu hỏi chi tiết. - Giữ lại tính đa nghĩa và phức tạp của văn bản. 1. luận Là một phương pháp thực hành, phê bình Mới Anh Mỹ chủ yếu tập trung vào mô tả, phân tích, lý giải hơn là nhận định về giá trị thẩm mỹ hay ý nghĩa cách tân của các tác phẩm văn học. Ảnh hưởng lâu dài, sâu đậm Phê Bình Mới được giảng dạy trong hầu hết các trường đại học Mỹ, và từ Mỹ, lan rộng sang hầu hết các quốc gia nói tiếng Anh khác. về phân tích thơ ca. Rèn luyện kỹ năng phân tích sâu văn bản, là phương pháp trợ thủ hữu hiệu cho các phương pháp khác. 2. PHÊ BÌNH XÃ HỘI HỌC - SOCIOCRITICISM Phê bình Xã hội học là gì? - Là một trường phái phê bình manh nha vào thế kỷ 19, hình thành và phát triển mạnh vào thế kỷ 20, phân nhánh và dung hợp vào thế kỷ 21. - Khi tiếp cận sự kiện văn học, tập trung khảo sát những yếu tố xã hội có mặt trong văn bản. Xác lập, miêu tả, lý giải những tương quan giữa xã hội và tác phẩm văn học. - Đề cao lý trí, chú ý con người xã hội và xem trọng mối quan hệ nhân quả giữa xã hội và văn học. - Khái niệm “socio-critique” được Claude Duchet khai sinh năm 1971, khi ông đề nghị một cách đọc lịch sử -xã hội về văn bản, ấy là “một thi học nghiên cứu về tính xã hội, gắn liền với một cách đọc trên góc độ hệ tư tưởng, chú ý sự đặc thù của văn bản” C. Duchet - Phê bình Xã hội học hiện đại hiện nay có ba nhánh chính 1 Xã hội học về công việc sáng tạo Lucien Goldmann 2 Xã hội học về trường văn học Pierre Bourdieu 3 Xã hội học về tiếp nhận Hans Robert Jauss. Các phương pháp chính của Phê bình Xã hội học Các bước tiến hành của phê bình Xã hội học truyền thống 1. Chọn văn bản 2. Xác định bối cảnh ra đời của tác phẩm. 3. Tóm tắt nội dung tác phẩm. 4. Xác lập hệ thống nhân vật. 5. Xác định mâu thuẫn xã hội và tính giai cấp của các nhân vật trong tác phẩm. 6. Xác định tính điển hình của nhân vật. 7. Xác định tính điển hình của hoàn cảnh 8. Xác định xu hướng chính trị của nhà văn. 9. Đi tìm giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm Các bước tiến hành của phê bình Xã hội học hiện đại 1. Chọn văn bản 2. Xác lập các cấu trúc ý nghĩa trong tác phẩm. 3. Xác lập các cấu trúc xã hội tương ứng. 4. Cắt nghĩa mối quan hệ giữa cấu trúc ý nghĩa này với cấu trúc xã hội. 5. Khảo sát sự vận động của các cấu trúc trên. 6. Phát hiện mối quan hệ giữa giữa tư tưởng tác giả và tư tưởng tác phẩm nhất quán hay có một độ chênh nhất định 7. Khảo sát yếu tố chính trị trong tác phẩm văn học văn học hậu thực dân. 8. Chú ý tính xã hội- lịch sử của cách viết. 9. Khảo sát tác động của xã hội cơ chế, chính sách với tác phẩm và tác giả xã hội học văn học. 10. Khảo sát tác động của công chúng với tác phẩm và tác giả mỹ học tiếp nhận. 11. Khảo sát yếu tố giới tính trong tác phẩm văn học văn học nữ quyền. 2. 3. KẾT LUẬN 1. PBXHH là trường phái phê bình có lưu vực rộng nhất và giòng chảy dài nhất so với những trường phái PB khác. 2. Nếu phê bình xã hội học truyền thống nặng tínhquy phạm và quyết định luận thì phê bình xã hội học hiện đại cởi mở hơn, đã làm mới lại lịch sử văn chương bằng một kiếm tìm mở rộng, thông thái và nhạy cảm về phương diện xã hội. Mặt khác, nhờ những tìm tòi trên thực tế văn bản mà nó tiếp cận với ký hiệu học văn học và phân tâm học. 3 .PHÊ BÌNH PHÂN TÂM HỌC PSYCHO-CRITICISM Phê bình phân tâm học là gì? - Là xu hướng phê bình manh nha từ cuối thế kỷ XIX, với lý thuyết Phân tâm học Psychoanalysis của Sigmund Freud, phát triển mạnh mẽ trong nửa đầu thế kỷ XX, phân nhánh& dung hợp nửa sau thế kỷ XX. - Tiếp cận tác phẩm văn học trên các nguyên tắc về tâm lý học, cụ thể là vô thức. Với S. Freud là vô thức cá nhân, với Jung là vô thức tập thể. - Thuật ngữ phê bình Phân tâm học được khai sinh bởi Charles Mauron năm 1949. - Phê bình phân tâm học là một phương pháp diễn dịch. - Đối tượng của PBPTH là tâm lý của tác giả, tâm lý của nhân vật và tâm lý của độc giả. - Có hai xu hướng PBPTH cổ điển & PBPTH hiện đại Sau S. Freud, phê bình phân tâm học phát triển theo nhiều hướng 1. Tập trung vào tác giả và tiểu sử tác giả Marie Bonaparte 2. Kết hợp cả hai khuynh hướng, nghiên cứu chủ đề Charles Mauron, Vô thức trong tác phẩm và cuộc đời của Racine, G. Bachelard. 3. Tập trung vào văn bản Jean- Bellemin Noël 4. Nghiên cứu văn hóa với tâm bệnh học tộc người G. Devereux 5. Kết hợp phân tâm học và Thiền E. Fromm 6. Kết hợp phân tâm học và folklore V. Dundes 7. Phên tâm học tập trung vào người đọc N. Holland 8. Phân tâm học và cấu trúc - kí hiệu học Jacques Lacan Gợi ý về phương pháp Có nhiều hướng tiếp cận 1. Nghiên cứu nhà văn như một cá thể hoặc loại hình Tiến hành phân tâm tác giả. 2. Nghiên cứu quá trình sáng tác. 3. Nghiên cứu các loại hình và phép tắc tâm lý trong tác phẩm cấu trúc tâm lý nhân vật, khám phá ý nghĩa tiến hành phân tâm nhân vật trong tác phẩm, khi đó ít nhiều người ta xem nhân vật như là những con người thực, hình dung có một “vô thức của văn bản” thuộc về tác phẩm. 4. Nghiên cứu tâm lý độc giả thị hiếu, xu hướng đọc, những chia sẻ/ không chia sẻ… Các tiêu điểm cần phân tích -Vô thức -Bản năng tính dục -Cấu trúc nhân cách - Giấc mơ - Mặc cảm Oedip -Xung đột về tâm lý -Những mâu thuẫn, bất thường trong diễn ngôn - Các chủ đề - Hiện tượng chia cắt separation - Những môtíp mất mát loss, chấn thương, lo âu, sợ hãi, ám ảnh, trầm uất, mộng du, kháng cự, tự vệ, bế tắc và hòa giải … - Hiện tượng thiếu hụt/ bù trừ, ngưng đọng/ dịch chuyển, mất trật tự về ranh giới, lẫn lộn giữa thế giới bên trong và thế giới bên ngoài, che giấu, thèm muốn, ngụy trang, thiếu ý thức về bản thân, không nối kết được với người khác… -Các từ ngữ thuộc tính dục và các biểu hiện tính dục của nhân vật - Cắt nghĩa hiện tượng tâm lý bằng nguồn gốc cá nhân/ nguồn gốc gia đình, xã hội… kiện để thực hành PBPTH -Thành thạo lý thuyết Freud - Hiểu biết thấu đáo về lịch sử thời đại hoặc về ngôn ngữ. -Huy động cảm xúc ở cường độ cực mạnh. -Có khả năng phân tích và tự phân tích thường xuyên Kết luận 1. Bị định kiến của xã hội 2. Phạm vi tác phẩm khảo sát hẹp 3. Nghiên cứu phê bình là công việc của ý thức mâu thuẫn. 4. Kỹ năng phân tích, cần kết hợp với nhiều thao tác khác, khó 5. Dễ bị suy diễn khiên cưỡng mơ hồ 4. PHÊ BÌNH NỮ QUYỀN FEMINISM CRITICISM Phê bình nữ quyền là gì? Là một trường phái phê bình văn học thoát thai từ phong trào chính trị xã hội đấu tranh cho quyền bình đẳng phụ nữ, phát triển mạnh mẽ vào giữa thế kỷ XX, chủ trương xác lập một nền mỹ học, lý luận văn học và sáng tác văn học riêng cho giới nữ. Những dung hợp • Phê bình Nữ quyền văn bản • Phê bình Nữ quyền phân tâm học • Phê bình Nữ quyền hậu cấu trúc luận • Phê bình Nữ quyền duy vật • Phê bình nữ quyền hậu hiện đại • Phê bình nữ quyền và đồng tính • Phê bình nữ quyền hậu thuộc địa • Phê bình nữ quyền và kỹ thuật thân thể Gợi ý phương pháp tiếp cận nữ quyền - Chọn văn bản - Chú ý tác giả -Khảo sát nhân vật - Khảo sát điểm nhìn -Khảo sát hệ chủ đề -Phân tích diễn ngôn -Lý giải Các câu hỏi khi đọc nữ quyền? - Nên chọn văn bản nào? truyền miệng/ viết cũ/ mới, đàn bà/ đàn ông, tự sự/ trữ tình? -Tác phẩm được thừa nhận/ bị quên lãng/ bị phê phán? -Các nhân vật nào mang tư tưởng nữ quyền? -Các nhân vật nào mang số phận nữ giới? Kết luận Phê bình văn học Nữ quyền có lịch sử không dài, phát triển theo hướng phân nhánh và dung hợp với các trường phái khác. 5. PHÊ BÌNH HẬU THỰC DÂN POSTCOLONIAL CRITICISM 5. bình Hậu thực dân là gì? Là trường phái phê bình thuộc phạm trù hậu hiện đại, chủ trương đi tìm trong tác phẩm văn học các dấu vết của chính sách thực dân. Xuất hiện vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, bắt nguồn từ tác phẩm Orientalism 1978 của Edward W. Said và tiểu luận "Postcolonial Criticism" 1992, Homi K. Bhabha. Phê bình hậu thực dân chịu ảnh hưởng PB Marxist, Phê bình Giải Cấu trúc và tư tưởng Michel Foucault . 5. 2. Các khái niệm chính? Cái khác Other/ Sự khác biệt Difference Chủ nghĩa độc tôn Monocentrism Tính nước đôi Ambivalent Tính lai ghép Hybridity Tính bắt chước Mimic Văn học hậu thực dân Post-colonialist literature Sự đề kháng Resistance Chủ nghĩa quốc gia Nationalism Diễn ngôn hậu thực dân Postcolonial discourse Diễn ngôn thực dân Colonial discourse Đối tượng -Văn học trong các nước thuộc địa/ văn học ở các nước thực dân -Văn học trong thời kỳ bị chiếm đóng/ Văn học từ thời kỳ bị chiếm đóng đến nay -Những hệ quả mà chính sách thực dân để lại trên đời sống văn học áp đặt, ảnh hưởng, kháng cự, tái tạo, những mâu thuẫn trong tâm thức dân tộc tự tôn/ tự ti, hoài cổ/ chạy theo cái mới, văn hóa, lịch sử bị phân mảnh, cắt vụn.“Người dân thuộc địa có rất nhiều quá khứ nhưng lại không có lịch sử” Nguyễn Hưng Quốc - “Văn học hậu thực dân” có các chủ đề chính +Sự biến đổi hay sự ăn mòn văn hóa xã hội Dường như mỗi khi nền độc lập được hình thành, một vấn đề chủ yếu lại nảy sinh; đâu là đặc trưng văn hóa mới? +Sai lầm trong đường lối vận dụng quyền lực và khai thác Mặc dù đã không còn bị lèo lái như một thuộc địa, người dân bản xứ dường như vẫn còn bị áp chế bởi những người định cư tại đây. Câu hỏi đặt ra là, ai là kẻ thực sự nắm quyền ở đây, và làm sao để ngày Độc lập thực sự mang ý nghĩa độc lập? +Sự tan rã và chuyển hóa của thuộc địa Chủ đề này thường được đưa ra để khảo cứu về cá nhân thay vì về tổng thể miền đất hậu thuộc địa. Những con người cá nhân thường tự hỏi mình; trên đất nước mới này, điều gì phù hợp với mình và mình có thể kiếm sống bằng cách nào? +Ứng dụng văn học Anh ngữ người ta có thể hỏi liệu ta có thể đạt được yêu cầu mục đích của các môn học hậu thuộc địa, ví dụ như phân tích văn học và văn hóa hậu thuộc địa, mà không quan tâm tới những tác phẩm văn học được viết bằng ngôn ngữ gốc của các quốc gia hậu thuộc địa hay không. Những gợi ý về phương pháp Triển khai từ các khái niệm xem mục Chú ý các yếu tố sau trong văn bản -sự hòa trộn của tái hiện và thực tại hoặc về việc lẫn lộn tái hiện với thực tại -mặc cảm tự ti/tự tôn dân tộc -những khúc xạ - những đồng hóa - sự tái hiện lịch sử - quá khứ và hiện tại, tái hiện và thực tại - bạo lực đế quốc. - kháng cự/ tuân phục - quyền lực về kinh tế, quyền lực về tình dục câu hỏi thường gặp khi đọc Phê bình Hậu thực dân -Các văn bản văn học tái hiện, hiển lộ hay ẩn ngầm, các phương diện của các áp chế thực dân như thế nào? -Văn bản tiết lộ những gì về sự phức tạp trong bản sắc hậu thuộc địa, bao gồm mối quan hệ giữa bản sắc văn hóa và bản sắc cá nhân, và những vấn đề như ý thức kép, và sự lai tạp? -Những người hay nhóm người nào được định nghĩa là “người khác” hay kẻ xa lạ trong tác phẩm? Những người/nhóm người đó được miêu tả và đối xử như thế nào? -Văn bản tiết lộ những gì về mặt chính trị / tâm lý của làn sóng chống thực dân? -Văn bản tiết lộ những gì về những tác động của sự khác biệt văn hóa – cách thức mà sắc tộc, tôn giáo, giai cấp, phái tính, định hướng giới tính, tín ngưỡng văn hóa, và phong tục kết hợp với nhau tạo nên bản sắc cá nhân – trong việc định hình nhận thức của chúng ta về bản thân và người khác, và về thế giới mà chúng ta đang sống bên trong? -Văn bản trả lời hay đưa ra nhận xét đối với những nhân vật, đề tài, hay giả thuyết của một tác phẩm thực dân được đề cao như thế nào? -Các nền văn học của các cộng đồng hậu thuộc địa có những điểm chung quan trọng nào? luận Là một trường phái tiếp cận trên xu hướng văn hóa chính trị, Phê bình Hậu thực dân ngày càng phát triển theo hướng phân nhánh ở các quốc gia. Đề cương bài giảng PGS. Ts. Nguyễn Thị Thanh Xuân GV Trường Đh KHXH&NV Tp. HCM Khoa Văn học&Ngôn ngữ > Bài viết được đăng 20/3/2014 1. Đuổi bắt thế giớiCó thể nói, từ những thập niên đầu thề kỷ XX, xã hội Việt Nam mới thực sự tham dự vào cuộc hành trình rời quỹ đạo khu vực để gia nhập quỹ đạo thế giới. Hành trình hiện đại hoánày, trước 1945, hầu như trùng khít với phương Tây hóa. Bởi, thế giới hiện đại trong mắt người Việt Nam bấy giờ chỉ là phương Tây. Còn sau 1975, chúng ta đã có những nẻo khác, như Liên Xô, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á, nhưng, theo tôi, con đường chính vẫn là phương Tây, còn các nước kia chỉ nên coi là những đồng hành sau hội Việt Nam đã và đang hiện đại hóa, nên văn học Việt Nam không thể dẫm chân mãi trong vũng cổ truyền mà không hiện đại hóa. Và, thực tế, hơn một thế kỷ qua, nó cũng đã và đang hiện đại hóa. Từ một văn học trung đại mang đậm chất Nho giáo coi văn học trước hết là con thuyền và cỗ xe chở đạo đến văn học hiện đại coi văn học nơi để khám phá cái đẹp, nơi mang lại những cảm xúc thẩm mỹ. Từ một văn học coi cái đẹp chỉ là cất thần, nên văn chương chuyên chú vào tả thần,đến một văn học đã mở rộng nội hàm cái đẹp sang cả cái thực, nên từ đó mới có thêm dòng văn chương tả một văn học văn thơ phụ lụcphần nhiều vay mượn từ khuôn mẫu Trung Hoa đến mộtvăn học thế giới có những thể loại, như Thơ Mới, tiểu thuyết hiện đại, kịch nói và cả phê bình văn học nữa...Nói "cả phê bình văn học nữa", là tôi muốn ngụ rằng phê bình văn học ở Việt Nam xét như một hoạt động chuyên ngành là một thể loại trước đây chưa từng có. Nó hoàn toàn là con đẻ của sự hiện đại hóa văn học thế kỷ XX. Trong tiến trình hiện đại hóa, phê bình văn học Việt Nam đã trưởng thành băng việc tiếp thu, tự giác hoặc không tự giác, cái tư tưởng phê bình của văn học phương Tây được kết tinh trong lý thuyết và được cụ thể hóa trong phương điểm văn học trung đại Việt Nam hầu như chưa có phương pháp, tuy nhiên nếu có gắng gạn lại để khái quát thì có thể gọi đó là phương pháp cổ điểncó tính chất chủ quanvà giáo chính phương pháp này lại hiện hình rõ rệt hơn ở giai đoạn hình thành của phê bình văn học Việt Nam với nhưng cây bút như Phạm Quỳnh, PhanKhôi...trên báo chí. Thậm chí phương pháp cổ điển vẫn còn ảnh hưởng đến cả Thiếu Sơn, nhà phê bình văn học chuyên nghiệp đầu tiên của lối phê bình phương Tây hiện đại với tác phẩm Phê bìnhvà Cảo luận1933, đặc biệt là tính chất giáo điều. Phương pháp cổ điển của lối phê điểm trung đại đặc biệt là tính chất chủ quan còn ảnh hưởng lớn đến phương pháp ấn tượng mà đại diện đầu tiên và duy nhất của nó là Hoài Thanh với Thi nhân Việt Nam 1942.Trở lại với cuốn sách đầu tiên của phê bình văn học Việt Nam, thiên Phêbình và Cảo luận,của Thiếu phẩm này đã đặt nền móng cho lối tiếp cận khoa học khách quan hoàn toàn mới mẻ được thể hiện ởnhiều phương pháp khác nhau. Trước hết phải kể đến phương pháp tiểu sử do Trần Thanh Mai khởi xướng và đại diện với công trình HànMặcTử 1941.Sau đó là một nhân vật quyết liệt đổi mới khác, kiên quyết kéo phê bình văn học đi theo con đường khoa học khách quan là Trương Tửu. Một mặt, với Nguyễn Du và Truyện Kiều 1942, ông áp dụng phương pháp văn hóa lịch sử của và một vài thủ pháp phân tâm của mặt khác với Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ1945, ông áp dụng phương pháp macxít,một nhánh tả của xã hội học, được khởi xướng từ những năm 30 với Hải 1945, phương pháp xãhội học macxít toàn thắng. Và, trong một thời gian dài, nó trở thành phương pháp độc tôn. Các phương pháp được hình thành và đã có những thành công lớn trước 1945 như phương pháp ấn tượng, tiểu sử, văn hóa, lịch sử... không còn tiếp tục phát triển nữa mà vỡ ra thành những yếu tố gia nhập vào phương pháp mácxít. Phưong pháp này, một mặtđã mang lại nhiều thành công cho phê bình văn học Việt Nam, mặt khác, do tự làm nghèo mình đi bởi sự độc tôn, nên vấp phải một số vấn đề nghệ thuật nan giải, như phản ánh luận, nội dung và hình thức... Những phương thuốc bốc cho nó như nhấn mạnh đặc trưng nghệ thuật của sự phản ánh, đảo lại trật tự các chức năng, đưa ra lý thuyết "phản nghiền"...đều khôngmang lại nhiều kết quả, bởi lẽ đây chỉ là những sửa chữa bộ phận trong một ngôi nhà tổng thể. Phê bình văn học Việt Nam, để thoát khỏi những vấn nạn đó, cần phải được bổ sung thêm những phương pháp khác cập thế giới 1986, đổi mới và mở cửa, trước hết, đã “tháo khoán" và khuyến khích những lối tiếp cận từ ngôn ngữ học cấu trúc của Đó là phương pháp phong cách học của Phan Ngọc với Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều 1985, phương pháp thi pháp học của Trần Đình Sử trong Thi pháp thơ Tố Hữu… Đồng thời, những cấm kỵ về Freud và phương pháp phân tâm học cũng được dỡ bỏ. Bởi thế, bước đầu đã xuất hiện những công trình đi theo hướng này của Đỗ LaiThúy như Đi tìm ẩn ngữ trong thơ Hoàng Cầm 1997 và Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực 1999.Như vậy, phê bình văn học Việt Nam đã tiếp thu được nhiều phương pháp của thế giới. Nhưng, điều quan trọng hơn là trong một thếé kỷ qua nó đã đi lại, dù không tự giác, đúng cái diễn trình của tư tưởng phê bình văn học thế giới đó là hành trình Tácgiả -> tác phẩm-> độcgiả. Chính ở điều này cho ta thấy một cái gì đó như là quy luật dù là hậu nghiệm Các văn học dân tộc dù xa cách nhau đến đâu về không gian và thời gian đều có thể tạo thành bản sắc thì sớm muộn gì cũng phải đi trên một con đường như nhau. Khác là khác ở cách chuyến tàu tốc hànhĐể bắt kịp thế giới, phê bình văn học Việt Nam phải lên chuyến tàu nhanh. Tốc hành, người phải có tốc độ cao, còn bỏ qua nhiều điểm đỗ và rút ngăn thời gian dừng chân ở một cuối chặng đường. Bởi vậy, các phương pháp của phê bình văn học Việt Nam xuất hiện gối tiếp nhau chứ không hẳn nối tiếp nhau như ở phương thực, ở phương Tây, phê bình văn học vận hành theo kiểu con lắc. Phương pháp tiểu sử học phát triển hết mức thì ngoài những ưu điểm ra còn bộc lộ cả những khiếm khuyết và để khắc phục chúng thì phương pháp văn hóa lịch sử ra đời và lại phát triển đến hết mức để rồi lại bộc lộkhiếm khuyết. Và đề khắc phục những khiếm khuyết thì phương pháp lịch sử tinh thần nảy sinh... Cứ như vậy, phương pháp này làm tiền đề cho sự ra đời và phát triển của phương pháp kia, nối đuôi nhau để đưa phê bình văn học tiến lên phía trước. Và mỗi một phương pháp đều được triển khai trọn vẹn, hết bình văn học Việt Nam,ngược lại, do phải dừng đến cây gậy rút đường, nên phương pháp này xuất hiện, chưa trải hết mình thì đã có một phương pháp khác xuất hiện, chồng lên nó và cả hai díu nhau đi như những con sóng gối đầu để đến bờ. Bởi thế, có những khoảng thời gian phê bình văn học Việt Nam cùng xuất hiện và cùng tồn tại hoặc được sau chút xíu không đáng kể nhiều phương pháp phê bình. Ví như, chỉ từ 1932 đến 1945 đã lần lượt xuất hiện các phương pháp chỉ xin kể những cái rõ nét hơn cả, như phê bình phân tâm học với HồXuân Hương thân thể và văn tài 1936của Nguyễn Văn Hanh, phê bình ấn tượng với Thi nhân Việt Nam 1942 của Hoài Thanh, phê bình tiểu sử với Hàn mặc Tử1941 của Trần Thanh Mại, phê bình văn hóa - lịch sử với Nguyễn Du và Truyện Kiều 1942của Trương Tửu, phê bình mác xít với Hải Triều, với Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ của Trương Tửu. Hoặc từ 1985 - 2000 phê bình phong cách học với Tìm hiểu phong cách của Nguyễn Du Truyện Kiều1985 của Phan Ngọc, phê bình thi pháp học với Thi pháp thơ Tố Hữu1987 của Trần Đình Sử, phê bình phân tâm học với Đi tìm ẩn ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực 1999 của ĐỗLai Thúy...Do tình trạng nước rút như vậy, nên các phương pháp phê bình văn học Việt Nam không thể không có sự đơn giản đã biết, mỗi một phương pháp phê bình ra đời bao giờ cũng có những cơ sở lý thuyết của nó. Xa thì gần với những tư tưởng triết học nào đó, gần thì gắn với nhưng quan niệm mới về mỹ học, về tác phẩm văn học... Bởi vậy, hiểu được cơ sở này thì mới hiểu sâu được phương pháp để sử dụng nó một cách linh hoạt và sáng tạo. Các nhà phê bình Việt Nam, khi vận dụng một phương pháp nào đó, ít có những trình bày lý thuyết. Họ chỉ đưa ra một vài thuyết minh, nhận xét nặng cảm tính về công việc mình làm. Đặc biệt là các phê bình gia trước 1945. Có thể, trong hoàn cảnh thông thường ngoại ngữ bấy giờ, độc giả không xa lạ với các phương pháp của Sainte-bcuve, Brunetière, Lanson... thậm chí họ còn được học trong nhà trường, nên phần giới thiệu lý thuyết là thừa, cốt yếu là vận dụng thế nào. Bởi thế, không ít người thấy những Thiếu Sơn, Vũ Ngọc Phan, Trần Thanh Mại, Hoài Thanh không nói gì, nên cứ tưởng rằng họ là những hiện tượng thuần túy Việt Nam, không có dây mỡ rễ má gì với ngoại nhân. Chỉ có Trương Tửu là ngoại lệ. Và sau 1945, một số ít khác như Phan Ngọc, Trần Đình Sử cũng là ngoại lệ. Có lẽ, những phương pháp họ áp dụng đã vượt ra ngoài những tri thức thông thường đương thời của số không có trình bày lý thuyết dễ dẫn đến một ngộ nhận cái phương pháp cụ thể mà các nhà phê bình Việt Nam dùng đó là toàn bộ phương như thi pháp học đâu chỉ có như thi pháp học của Trần Đình Sử. Đấy chỉ là một nguồn từ NgaXôViết, thậm chí chỉ từ một vài nhà nào đó trong cái nguồn này. Bạn đọc cũng nên biết có những nguồn khác của phương Tây. Hoặc phương pháp xã hội học chẳng hạn. Ngoài xã hội học mácxít ra, còn có xã hội học cấu trúc của thậm chí trong xã hội học mác xít còn có mácxít của Lukacs,mácxít phương Tây... Nếu hiểu biết kỹ hơn về các phân nhánh này thì độc giả dễ có sự đánh giá đúng đắn, nhất là đối với sự phê bình của phê cùng, sự đơn giản hóa còn thể hiện ở chỗ khi vận dụng một phương pháp nhà phê bình dễ lược quy vào một vài công thức nào đó. Ví như, khi vận dụng phân tâm học Freud vào nghiên cứu Hò Xuân Hương, NguyênVăn Hanh chỉ sử dụng công thức dồn nén -> ẩn ức -> thăng hoa. Công thức này về sau đã trở thành chiếc chìa khóa vạn năng dường như mở được vào một tác phẩm có vấn đề tình dục. Tệ hơn, khi đã trở thành khuôn mâu rồi thì người ta lạiláy tác phẩm đề chứng minh công thức. Rồi các công thức khác thi nhau ra đời như phong cáchlà sự chọn lựa,rồi thi pháp học là quan niệmvề con người, không gian nghệ thuật, thờigian nghệ thuật...Thế là sự vận dụng phương pháp từ những thế hệ F2, F3 trở đi đã thành cằn cỗi và sai pháp mới dẫn đến kết quả cũ khiến người ta dễ hoài nghi cái mới, thật là lợi bát cập sự đồng tồn hoặc gối tiếp nhau của các phương pháp nói trên dẫn đến hiện tượng xâm nhập lẫn nhau của các phương pháp. Từ đó, phê bình văn học Việt Nam ít có những phương pháp thuần túy, chuyên nhất mà bao giờ cũng có sự pha tạp.. Ví như, phương pháp ấn tượng của HoàiThanh thì cũng không hẳn là ấn tượng chủ nghĩa như của nước ngoài. Nhà văn hiện đạicủa Vũ Ngọc Phan thì là sự tranh chấp giữa phê bình khoa học và phê bình ấn tương, giảng giải, nhận xét vụn vặt. Đến người cực đoan như Trương Tửu, Phan Ngọc mà trong haitác phẩm viết về TruyệnKiều của hai ông cũng còn thấy sự không thuần nhất về phương pháp. Trương Tửu thì vừa văn hóa lịch sử vừa phân tâm học, còn Phan Ngọc thì những yếu tố xã hội học cứ đâm chen vào phong cách học. Có thể, hợp lực của phương pháp xã hội học thời kỳ thanh xuân và áp lực của nó thời kỳ độc tôn đã gây ra hiện tượng này. Nhưng cũng có thể do con người trồng trọt trong mới người Việt Nam chúng ta có bản chất đa canh chứ không phải chuyên canh. Bởi thế, phê bình văn học Việt Nam không có những người chuyên trị một phương pháp. Thường thì dễ chuyển từ phương pháp này sang phương pháp khác sau một làn thu hoạch hóa lược của kẻ đi chậmMặc dù đã truợt đi rất nhanh để đuổi kịp thế giới, nhưng phê bình văn học Việt Nam văn còn tụt hậu một khoảng cách đó là cái phương pháp tiếp cận tác phẩm từ độc giả, như giải cấu trúc, giải minh họcvà mỹ học tiếp Nam chưa có nhà phê bình nào sẵn sàng thu lấp khoảng cách này. Là người sẽ còn đi sau thế giới một thời gian dài dài nữa, nên chúng ta cần có một chiến lược củakẻ đi hết, hẳn là cái phương châm cổ truyền chậm mà nhiên, nếu nhanh mà chắc thì còn nói làm gì. Erằng đã chậm mà lại còn không thu các phương pháp của nước ngoài là chúng ta tiếp thu cái ngọn, đánh những quả đã chín sẵn, mà để có những quả phương pháp ấy người ta phải đi từ triết học, mỹ học, lý thuyết văn học, phương pháp phê bình văn học. Nếu chúng ta chỉ hái quả, không biết vun gốc thì sự vận dụng của chúng ta chỉ là những áp dụng máy móc, đơn thuần là thao tác kỹ thuật, không thể có sự sáng tạo. Bởi vậy, nhà phê bình cần phải làm một hành trình ngược lại phương pháp phê bình văn học -> lý thuyết văn học -> mỹ học -> triết học để thay đổi cái nhìn nghệ thuậtvà cái nhìn thế giớicủa mình. Tôi gọi đó là cuộc hành hương về nguồn. Và sự thành công của một nhà phê bình phụ thuộc vào sức đi xa của anh ta trong chuyến hành hương đó nên biết nhiều dùng có phương pháp phê bình nào là toàn bích. Mỗi công cụ đều có sở trường và sở những hạn chế của phương pháp này là điều kiện nảy sinh và tòn tại của phương pháp khác. Đấy là lý do cho sự chung sống hòa bình của nhiều phương pháp phê bình mà không nhất thiết phải loại trừ nhau và càng không thể chỉ có một phương pháp độc tôn. Và đây cũng là lý do để nhà phê bình nên biết nhiều phương pháp không chỉ để dễ tìm ra tiếng nói chung mà để cho chính mình khi sử dụng một phương pháp nào đó. Nếu chuyên canh được một phương pháp thì tốt. Bằng không, khi tiếp xúc với tác phẩm thì tùy theo tính chất của tác phẩm mà chọn lấy một phương pháp thích hợp làm chủđạo, còn lấy một số các phương pháp còn lại làm bổ cùng, đấy cũng là lý do để nhà phê bình có thể tiếp cận tác phẩm theo các hệ thống văn học Tác giả -> tác phẩm -> người đọc. Lượt xem 337 STYLE OF LITERATURE RESEARCH AND CRITICISM BY KIEU THANH QUE TRẦN THỊ MỸ HIỀN Trường Đại học Thủ Dầu Một, Việt Nam TÓM TẮT Kiều Thanh Quế là nhà nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX. Ông được xem là một cây bút nghiên cứu với phong cách hiếm có ở Nam Bộ. Trong khoảng 10 năm cầm bút, Kiều Thanh Quế đã để lại di sản tác phẩm khá đồ sộ. Bài viết này tìm hiểu các phương diện từ phương pháp nghiên cứu, phê bình đến cách kết cấu, văn phong, ngôn ngữ trong các bài nghiên cứu, phê bình của Kiều Thanh Quế, qua đó chúng ta thấy được sự linh hoạt trong việc vận dụng đa dạng phương pháp nghiên cứu, phê bình; kết cấu bài nghiên cứu logic, tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc khoa học; lối viết thẳng thắn, thể hiện cái nhìn bộc trực đối với đối tượng nghiên cứu và vốn ngôn ngữ Nam Bộ khá đặc trưng. Từ khóa Kiều Thanh Quế; nghiên cứu văn học; phê bình văn học; phong cách. ABSTRACT Kieu Thanh Que is a Vietnamese researcher and literary critic in the first half of the twentieth century. Within 10 years of professional activities, he has a large number of works. He is considered as an outstanding researcher in the South. This article will explore not only his research methods and literary criticism but also his textual structure, style, and language in his works. The results show that he is flexible in applying various research methods, his structure of the research is logical and coherent, and his style is frank and direct to the research objectives. In addition, he also used the typical research language of the South Vietnamese in the first half of the twentieth century. Keywords Kieu Thanh Que; literary research; literary criticism; style. x x x 1. Mở đầu Trong giới nghiên cứu, phê bình ở Việt Nam, những cây bút được xem là có phong cách không quá nhiều, bởi phong cách không đi cùng với số lượng tác phẩm nhiều hoặc quá trình hoạt động lâu dài. Phong cách được hiểu như một màu sắc riêng mà chỉ riêng người đó mới có. Từ trước đến nay, Kiều Thanh Quế không phải là một cái tên quá nổi bật ở phương diện được nhắc đến trong các bộ văn học sử, hay là tác giả có lượng trích dẫn cao. Mặc dù vậy, khi tiếp cận sâu và đặt trong chính thời đại của ông, giai đoạn của nền nghiên cứu, lí luận, phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, ta sẽ nhận thấy ở cây bút họ Kiều này có một năng lực hiếm thấy. Bắt đầu hoạt động văn học từ năm 24 tuổi, sự nghiệp cầm bút của Kiều Thanh Quế không quá 10 năm, cho ra đời trên dưới 10 đầu sách từ nghiên cứu, phê bình cho đến dịch thuật, khoảng 50 bài viết nghiên cứu, phê bình đăng trên các báo và tạp chí đương thời từ Nam ra Bắc. Con người ấy lúc sinh thời như cảm nghiệm trước được số phận của mình, lúc nào cũng gấp rút, hối hả trên con đường văn học, không thể hoặc không muốn chờ đợi, nhờ vậy mà tính đến năm 1945, hầu như không có cây bút nghiên cứu, phê bình nào vào thời đó có được khối lượng tác phẩm được xuất bản đồ sộ như ông. Bàn về phong cách nghiên cứu, phê bình của Kiều Thanh Quế, chúng tôi sẽ tìm hiểu các phương diện gồm phương pháp nghiên cứu phê bình, kết cấu, văn phong và ngôn ngữ. 2. Nội dung Phương pháp nghiên cứu, phê bình của Kiều Thanh Quế Trong tình hình các lí thuyết nghiên cứu văn học mới du nhập vào Việt Nam, mỗi người tùy vào sở trường và định hướng tư tưởng mà chọn cho mình một hướng đi. Hoài Thanh tạo ấn tượng với trường phái phê bình trực cảm; Trần Thanh Mại làm nên tên tuổi với phương pháp phê bình tiểu sử; Trương Tửu chọn phương pháp phê bình văn hóa – lịch sử và phần nào là phương pháp phê bình phân tâm học; Vũ Ngọc Phan hòa trộn giữa phương pháp phê bình tiểu sử, phê bình văn hóa xã hội, phê bình trực cảm, Đặng Thai Mai theo phương pháp phê bình xã hội học marxist… Mỗi người một thể nghiệm khác nhau và ít nhiều để lại dấu ấn riêng. Có một điều rằng, ở Việt Nam trong giai đoạn đó, các nhà nghiên cứu phê bình chủ yếu đi theo hướng thể nghiệm, ứng dụng các lí thuyết vào phê bình chứ không chủ trương giới thiệu lí thuyết văn học. Kiều Thanh Quế là một trong những người tiên phong trong việc giới thiệu và hệ thống hóa về mặt lí thuyết các phương pháp phê bình. Làm công việc đó, ông có điều kiện tiếp cận tìm hiểu sâu lí thuyết từng trường phái. Tuy nhiên, trong khi áp dụng vào công việc nghiên cứu phê bình, ta lại thấy ông không theo hẳn một trường phái hay một phương pháp nào mà luôn có sự lựa chọn ứng dụng phù hợp với mỗi đối tượng. Cũng như từ đầu đến cuối, ta thấy ông vẫn luôn giữ một thái độ khách quan, khoa học, tuân theo các nguyên tắc biện chứng để thẩm định, đánh giá một tác phẩm, ít khi ông để lộ cái tôi hoặc đường hướng tư tưởng của mình trong các bài nghiên cứu, phê bình. Đó là một trong những điểm đặc biệt và cũng là đáng trọng ở ngòi bút này. Tổng kết lại trong toàn bộ di sản văn học của Kiều Thanh Quế, chúng tôi nhận thấy ông có vận dụng một số phương pháp nghiên cứu, phê bình chính như phương pháp phê bình tiểu sử của Sainte Beuve; phương pháp phê bình văn hóa – lịch sử của H. Taine; phương pháp phê bình giáo khoa của Lanson; phương pháp so sánh, phương pháp phê bình trực giác, cũng như vận dụng thuyết tiến hóa văn học của Brunetière. Phương pháp nghiên cứu văn hóa – lịch sử Phương pháp nghiên cứu này thể hiện rõ trong công trình Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam 1943 của Kiều Thanh Quế. Mặc dù tác phẩm được kết cấu tựa trên bình diện ngôn ngữ, nhưng ở đó, tác giả khảo cứu rất kĩ lưỡng các yếu tố về lịch sử, văn hóa trong nước cũng như khu vực Đông Á có tác động đến việc hình thành các trào lưu, khuynh hướng văn học thời trung đại. Đây là phương pháp nghiên cứu thông dụng trong các công trình khảo cứu văn học thời bấy giờ như Việt Hán văn khảo, Việt Nam cổ văn học sử… Tuy nhiên, với Kiều Thanh Quế, phương pháp này có phần phát huy hiệu quả hơn, bởi ông đã chọn lọc và dựa trên nhiều tài liệu lịch sử để mô tả và lí giải các vấn đề của văn học. Phương pháp này cũng cho thấy quan niệm Văn – Sử – Triết bất phân vẫn có một sự chi phối nhất định trong lĩnh vực khảo cứu văn học lúc bấy giờ. Do dòng văn học mà ông đang nghiên cứu chủ yếu là văn học thời kì trung đại nên cảm quan lịch sử không tách rời văn chương, tư tưởng. Phương pháp này cũng được Kiều Thanh Quế vận dụng trong công trình Ba mươi năm văn học 1942. Phương diện văn hóa được ông trình bày từ sự hình thành, vận động và phát triển của chữ quốc ngữ cùng các thiết chế văn hóa, nghệ thuật, tư tưởng phương Tây du nhập vào Việt Nam. Về lịch sử xã hội, Kiều Thanh Quế cho thấy một xã hội đang vận động theo xu hướng hiện đại hóa với sự trợ lực của ngành xuất bản, báo chí và ngành thương mại văn học đang khởi sắc. Nhu cầu đọc của dân chúng ngày càng cao là kết quả của một xã hội đang phát triển. Cùng lúc đó, văn hóa đọc là bệ phóng cho văn học chữ quốc ngữ ra đời đa dạng về thể loại, đáp ứng được thị hiếu thẩm mĩ của người đương thời, từ thơ ca, đến là tiểu thuyết, phóng sự, truyện ngắn, kịch nói, phê bình, dịch thuật… Ngoài ra, ta còn thấy Kiều Thanh Quế kế thừa tinh thần thuyết tiến hóa văn học của Brunetière để dẫn dắt, lí giải, giúp người đọc có thể hình dung quá trình vận động, phát triển của văn hóa, văn học nước nhà. Cùng với đó, tác giả còn cho thấy một cơ chế xã hội học văn học đã hình thành, tồn tại và chi phối sự phát triển của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX. Có thể nói, với công trình này, Kiều Thanh Quế đã kết hợp khá hiệu quả các phương pháp nghiên cứu nhằm vẽ nên một bức tranh 30 năm văn học Việt Nam. Trở lại phương pháp chủ đạo là văn hóa – lịch sử, Kiều Thanh Quế còn vận dụng khi bàn về Truyện Kiều trong bài “Nỗi lòng Tố Như dưới triều Gia Long”. Bài viết dẫn ra nhiều cứ liệu về lịch sử cuối Lê đầu Nguyễn cũng như các yếu tố về tiểu sử của Nguyễn Du nhằm minh giải một số tình tiết trong Truyện Kiều. Ông đã cho thấy được mối liên hệ cũng là sự tương đồng trong chính cuộc đời của Nguyễn Du được thể hiện qua một số câu thơ trong Truyện Kiều. Cuối cùng, ông xác định “Truyện Kiều phản ánh tấm lòng Tố Như dưới triều Gia Long” Nguyen & Phan, 2009, Phương pháp phê bình tiểu sử Phương pháp phê bình tiểu sử vốn là một phương pháp rất thịnh hành trong môi trường nghiên cứu văn học lúc bấy giờ. Tuy nhiên, với phương pháp này, Kiều Thanh Quế sử dụng khá chừng mực. Một phần vì Kiều Thanh Quế không chú trọng mảng phê bình nhân vật mà thường phê bình tác phẩm hoặc các sự kiện văn học. Do vậy, phương pháp này không phải là thông dụng và tối ưu đối với ông. Trong một số trường hợp cụ thể, khi nhận thấy phần tiểu sử nhà văn ánh xạ rõ nét trong sự hình thành cốt truyện và phong cách viết văn, Kiều Thanh Quế mới vận dụng phương pháp này. Bài phê bình “Chân trời cũ” của Hồ Dzếnh là một trong những trường hợp đặt biệt đó. Ông cho rằng “cốt truyện tác giả dàn xếp trong đoản thiên của mình toàn là chuyện gia đình tác giả – một gia đình Trung Hoa sống trên đất Việt Nam… Điều khiến tôi cảm động là lòng sầu xứ không thôi cộng với nỗi đau khổ của tác giả” Nguyen & Phan, 2009, Ngoài ra, trong phần phê bình tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, Kiều Thanh Quế cũng ít nhiều sử dụng phương pháp này khi tìm mối liên hệ với tiểu sử nhà văn, nhằm lí giải khuynh hướng sáng tác của nhà văn họ Vũ này. Phương pháp liên tưởng, so sánh So với các phương pháp nghiên cứu, phê bình khác, đây là phương pháp được ông vận dụng nhiều nhất, đan xen trong các bài phê bình. Đặt đối tượng nghiên cứu trong mối liên hệ liên tưởng, so sánh, Kiều Thanh Quế cho thấy biên độ cũng như sự giao thoa giữa các vùng văn học hoặc các đối tượng khác nhau, từ đó khắc họa rõ nét đối tượng nghiên cứu. Phương pháp này được ông sử dụng một cách uyển chuyển, linh hoạt, tạo cho bài viết có một đường dây dẫn dắt, tạo sự hấp dẫn cho người đọc cũng như dùng để cập nhật các kiến thức văn học cho độc giả. Chính Kiều Thanh Quế trong một bài phê bình khác đã cho rằng vận dụng phương pháp đối chiếu so sánh sẽ giúp cho những lời bàn giải có thêm căn cứ và điểm tựa để tăng sức thuyết phục trong lập luận Nguyen & Phan, 2009, Như vậy, so sánh là một phương pháp được Kiều Thanh Quế ý thức lựa chọn nhằm làm mạnh mẽ, sáng rõ thêm các vấn đề mà ông đang đề cập. Chẳng hạn khi phê bình Giông tố của Vũ Trọng Phụng, ông liên hệ với Tiêu sơn tráng sĩ của Khái Hưng và Trường đời của Lê Văn Trương để so sánh về dung lượng, cũng là một cứ liệu để giúp ông khẳng định giá trị của Giông tố. Ông cho rằng “Giông tố của Vũ Trọng Phụng về lượng ngang ngửa với Trường đời của Lê Văn Trương nhưng về phẩm thì vượt cao hẳn lên một cách trông thấy” Nguyen, & Phan, 2009, Và cũng đề phòng ý kiến cho rằng một tác phẩm hay không nhất thiết phải dài, ông lập luận và dẫn chứng các tác phẩm của các nhà văn nổi tiếng trên thế giới để làm vững chắc thêm ý kiến của mình. Các bạn đừng vội tin câu “văn hay bất luận đặt dài” của bọn văn sĩ bất tài đem ra phỉnh phờ các bạn. Vì chúng tôi đố các bạn tìm đâu ra được một cuốn tiểu thuyết Âu châu trừ nước Pháp mỏng meo sốc sếch như đa số tiểu thuyết ta trình bày nhan nhản ở khắp hàng sách trong nước hiện nay. Cuốn tiểu thuyết nào của Marxim Gorki, Léon Tolstoy, Dostoievsky, Sinclair Lewis, Stefan Zweig, Somerset Maugham, Vicki Baum, Blasco, Hânez, Pearl Buck cũng dày ba bốn trăm trang. Nguyen, & Phan, 2009, Không chỉ so sánh về kĩ thuật viết, ông còn có những liên tưởng, so sánh về nội dung đề tài. Trong khi phê bình Quê người của Tô Hoài, ông đã liên hệ với Sau lũy tre xanh của Khái Hưng và Con trâu của Trần Tiêu để khái quát thành một bộ “nhân sinh hí kịch sau lũy tre xanh” ở đất Bắc Nguyen, & Phan, 2009, Cùng hệ đề tài này, ông cũng liên hệ các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh ở Nam Bộ như Con nhà nghèo, Ngọn cỏ gió đùa, Cay đắng mùi đời… Cũng bằng phương pháp so sánh này, ở nhiều chỗ đã cho thấy cặp mắt phát hiện khá tinh tường của Kiều Thanh Quế. Chẳng hạn trong bài phê bình Đồng bệnh – kịch của Khái Hưng, ông nhận thấy “kịch Khái Hưng khác kịch của Đoàn Phú Tứ ở điểm người đàn bà là chủ động trong kịch của Đoàn Phú Tứ, trong khi người đàn ông đóng vai trò quan trọng ở kịch Khái Hưng” Nguyen, & Phan, 2009, Cuối cùng, thẩm định lại tài năng của tác giả này, ông thay nhận định bằng một phép so sánh “Ngòi bút Khái Hưng dồi dào lắm! Nhưng dồi dào đâu phải đồng nghĩa với đặc sắc! Khái Hưng viết tiểu thuyết diễm tình, gia đình thành công không ai chối cãi được. Bắt sang lịch sử tiểu thuyết, tác giả Tiêu Sơn tráng sĩ vẫn còn đáng trọng hơn Lan Khai. Nhưng trong phạm vi kịch bản, chúng tôi không làm sao khỏi đặt Khái Hưng dưới Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ!” Nguyen, & Phan, 2009, Phương pháp phê bình trực cảm Cùng với các phương pháp nghiên cứu văn hóa – lịch sử, phương pháp phê bình tiểu sử, Kiều Thanh Quế đâu đó vẫn có sử dụng phương pháp trực cảm hay còn gọi là trực giác để cảm nhận và đánh giá một vài đối tượng văn học. Vận dụng phương pháp này, theo chúng tôi, là một trong những cách làm mềm hóa ngòi bút trọng về tư duy biện chứng của Kiều Thanh Quế. Thật ra đây không phải là một phương pháp thuần túy mang tính chủ quan. Kiều Thanh Quế từng phê bình “Triết học Bergson” và đã nhận thấy rằng Trực giác là một phương pháp nhận thức biệt hẳn ra ngoài lí trí nhưng không phải phản với lí trí. Thực tại nào mà trực giác đã tìm ra cũng có thể dùng lí trí để thí nghiệm xem xét lại. Thế thì tiếng “trực giác” đây không phải theo nghĩa thông thường, chỉ một cách ức đoán, một sự cảm giác thuần thuộc về chủ quan, một cái tâm trạng thuộc về tình cảm đâu. Trái lại đó là một cách suy nghĩ, một cách chú ý thâm trầm, không thiết đến sự hành động ở ngoài, bỏ cả những tiếng nói và lí luận thông thường để mà trực tiếp cảm xúc lấy cái chân tướng. Nguyen, & Phan, 2009, Ông cho rằng trực giác của Bergson là trực giác suy lí. Nó khác với trực giác của nhà Phật, là trực giác thần bí. Trong một số bài phê bình, Kiều Thanh Quế hay có những nhận định ban đầu theo hướng trực cảm này nhằm tóm lấy toàn bộ ý cốt lõi của vấn đề, mới xem qua thấy có phần hơi chủ quan; tuy nhiên, ngay sau đó bằng những lập luận, dẫn dắt, diễn giải cận văn bản, ông đã cho người đọc thấy được vì sao ông có cảm nhận đó. Hoặc cũng có một số đoạn ta thấy ông để mạch văn chiều theo cảm xúc của mình. Đó là những lúc ngòi bút vốn rắn rỏi của ông trở nên mềm mại, nhẹ nhàng, gợi sự liên tưởng. Phương pháp này cũng có phần gần với lối phê bình văn học cổ điển phương Đông, làm mềm hóa tính rạch ròi của ý thức. Mặc dù mạnh ở tinh thần khúc chiết, khoa học kiểu phương Tây, nhưng về cảm quan chung, Kiều Thanh Quế vẫn giữ lại phần nào nét cổ điển. Có thể nói rằng, đối với các thể loại có sự tiếp nhận kĩ thuật viết của phương Tây, về mặt hình thức, Kiều Thanh Quế luôn chú trọng kĩ thuật viết, còn về nội dung, ông sẽ đứng trên quan điểm xã hội tiến bộ. Nhưng khi phê bình thơ ông lại để tâm hồn mình nghiêng về phía cổ điển nhiều hơn. Đối với Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân, khi phê bình, Kiều Thanh Quế gián tiếp bộc lộ cảm quan này khi không đánh giá cao tác phẩm của các nhà thơ Mới chịu ảnh hưởng trào lưu cách tân văn học của phương Tây như Bích Khê, Hàn Mặc Tử. Nói cho cùng, thơ là chuyện của tâm hồn. Ở một chừng mực nào đó, những người làm văn chương ở Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX, đặc biệt là có xuất thân từ vùng đất Nam Bộ ít nhiều vẫn còn lưu giữ một phần mĩ cảm của cái truyền thống. Cho nên, với phương pháp phê bình trực giác này, ta thấy ở Kiều Thanh Quế vừa có tiếp thu của Bergson, vừa giữ lại một chút cảm quan cá nhân thuộc về truyền thống văn học phương Đông, khó tách rời. Ngoài các phương pháp kể trên, Kiều Thanh Quế cũng hay sử dụng một số phương pháp tuy lúc đó chưa thành tên gọi giống sau này như thi pháp học, phong cách học và cả phương pháp phê bình giáo khoa. Với phong cách học, trong phê bình Chân trời cũ của Hồ Dzếnh, ông đã nhận ra “tánh cách ngòi bút” của tác giả này. “Văn chương Hồ Dzếnh có những nhịp uyển chuyển và buồn lạ như những khúc nhạc lâm li ai oán. Những khúc nhạc đều đều ấy… gợi lên được bao nhiêu vang bóng trong lòng độc giả” Nguyen & Phan, 2009, Hay trong khi phê bình Giông tố của Vũ Trọng Phụng, ông nhận định “Vũ Trọng Phụng viết tiểu thuyết chú trọng ở tính cách duy nhất, uyển chuyển, rộng rãi của sự sống” Nguyen, & Phan, 2009, Về phương pháp phê bình thi pháp học, ta thấy đậm nhạt trong bài “Câu chuyện con số trong thơ và nhạc trong thi ca”. Ở đó, ông chú trọng phân tích kĩ lưỡng từng kí hiệu văn học như nghệ thuật dùng con số, phân tích nghệ thuật cộng hưởng âm của một bài thơ Việt Nam trong tương quan so sánh ngôn ngữ thơ giữa tiếng Việt và tiếng Pháp. Đoạn phân tích giá trị biểu đạt của câu thơ “Bóng dương mấy buổi xuyên ngang/ Lời sao mười hẹn chín thường đơn sai” qua bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm mới thật tài tình, đã cho thấy một khả năng phân tích tâm lí thấu đáo. Ông viết Ai hẹn với mình mười lần mà sai hết mười, mình đau đớn thật. Nhưng sự đau đớn của mình chỉ trong một thời gian rất ngắn mà thôi. Vì mình thấy rõ mình không có một mảy may hi vọng nào được kẻ ấy thương tưởng đến. Còn ai hẹn với mình mười lần mà sai hết chín, được một lần đúng hẹn thì sự đau đớn của mình dài dằng dặc… Vì một lần đúng hẹn, người tình của mình đã gieo vào lòng mình một tia hi vọng. Mang tia hi vọng mong manh ấy, mình đau khổ, cho đến chín lần chờ đợi mà không được gặp ý trung nhân. Nguyen, & Phan, 2009, Hơn nữa, ông cũng chú trọng thi pháp không gian, thi pháp thời gian cùng nhạc tính trong các đoạn dịch thơ trong khi đối chiếu với nguyên tác. Những lí giải của ông thật tường tận, phần nào cho thấy sự cẩn trọng và tinh tường trong cách cảm thụ thi ca. Mặc dù trong bài viết này, Kiều Thanh Quế có giải thích rằng, đó là ý tưởng có được trong cuộc hội đàm với nhà nghiên cứu văn hóa Phạm Thiều, nhưng cũng cho thấy được chút sở trường cũng như quan điểm thẩm mĩ của nhà phê bình họ Kiều. Về phương pháp phê bình giáo khoa, ta thấy xuất hiện đậm nhạt trong hầu hết các bài phê bình của Kiều Thanh Quế. Đặc điểm của phương pháp này là có sự kết hợp hài hòa các phương pháp tiểu sử, phương pháp văn hóa – lịch sử, phương pháp xã hội học và quan trọng là chú trọng đến văn bản. Ông cho rằng “phê bình một tác phẩm có giá trị về cốt truyện mà không để ý đến lối hành văn của tác giả thì chưa phải là làm được một công việc theo ý muốn của nhà phê bình” Nguyen & Phan, 2009, Vì thế, trong phê bình tác phẩm, Kiều Thanh Quế thường chú tâm đến kĩ thuật xây dựng tác phẩm chứ không chỉ đơn thuần chú ý đến nội dung. Trong bài phê bình “Bỉ vỏ của Nguyên Hồng”, ông chú ý “lối viết phóng sự tiểu thuyết” của Nguyên Hồng. Đó là “mục kích được một cảnh đời chạy vỏ của một “bỉ vỏ”. Nguyên Hồng nghĩ ra ngay một câu chuyện dàn xếp rất mạch lạc, trong đó bỉ vỏ ấy là vai chủ động và lấy cái tân tiểu thuyết là Bính” Nguyen, & Phan, 2009, Từ đó, ông cũng ngầm phê bình tác phẩm phóng sự của Trọng Lang “thấy sao chép y lại, để cả tên thiệt” không có tính nghệ thuật. Nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn này mà ta thấy các bài viết của Kiều Thanh Quế đều có tính chất biện chứng, khoa học, tăng sức thuyết phục đối với người đọc. Về phương pháp nghiên cứu, phê bình của Kiều Thanh Quế, ta thấy có những nét tương đồng với một số cây bút phê bình ở Nam Bộ lúc bấy giờ như Lê Tràng Kiều, Lê Thọ Xuân, Hoàng Hạ Huệ. Tuy nhiên, ở Kiều Thanh Quế lại có sự hòa trộn, linh hoạt, uyển chuyển trong các phương pháp, tùy thuộc vào đối tượng tiếp nhận. Điều này có một phần lí do bởi đây là giai đoạn mà các lí thuyết văn học chưa được nhìn nhận một cách chuyên biệt như giai đoạn sau. Các phương pháp nghiên cứu đã tồn tại trong một trường vận động chung trong xu thế vừa mới tiếp nhận từ nước ngoài. Về phía chủ quan, bản thân Kiều Thanh Quế có điều kiện tiếp cận lí thuyết của nhiều trường phái phê bình văn học, do đó ông có cơ hội để lựa chọn và giữ được tâm thế bình tĩnh trước thế cuộc văn học lúc bấy giờ. Nhìn chung, trước sau ông vẫn là một ngòi bút trọng sự khoa học, nghiêm túc và tính hàn lâm trong lĩnh vực nghiên cứu. Mặc dù trong cuộc đời riêng ông có tham gia hoạt động cách mạng, nhưng ông không để thiên hướng chính trị chi phối cách nhìn nhận và đánh giá tác phẩm. Điều đó đã cho thấy một sự thận trọng, chừng mực trong ngòi bút, một trong những phẩm chất cần thiết của một nhà nghiên cứu. Đặc điểm kết cấu, văn phong, ngôn ngữ trong nghiên cứu, phê bình của Kiều Thanh Quế Đặc điểm về kết cấu Các bài nghiên cứu của Kiều Thanh Quế hầu hết đều được kết cấu một cách logic, khoa học theo lối diễn dịch, hoặc có khi là tổng – phân – hợp. Ở đó, tác giả chủ động sắp đặt các ý tứ đi từ khái quát vấn đề rồi đến diễn giải, cuối cùng tổng kết, khẳng định lại vấn đề. Có khi từ một trường hợp, ông khái quát thành một bức tranh rộng lớn của văn học hoặc ngược lại, từ một vấn đề chung khái quát ông đi vào một trường hợp cụ thể. Ở những bài viết mang tính chất điểm sách, tác giả thường gói gọn ý tưởng ngay từ ban đầu bằng một nhận định khen hoặc chê, sau đó sẽ đi vào chứng minh cho lập luận của mình. Rải rác trong các bài phê bình của mình, Kiều Thanh Quế còn xen kẽ đề cập các khái niệm, thuật ngữ văn học hoặc các vấn đề lí thuyết có liên quan nhằm làm rõ thêm vấn đề trong bài viết. Chẳng hạn trong bài phê bình “Làm đĩ”, “Thanh niên “Người đàn bà trần truồng” và quan niệm tình dục trong văn chương Việt Nam, để làm rõ hơn lập luận của mình, Kiều Thanh Quế đã dẫn một phần giới thiệu cho độc giả hiểu được tinh thần cốt lõi học thuyết phân tâm học của Freud. Trong phê bình “Nắng đào” của Nguyễn Xuân Huy, khi khẳng định “Nắng đào” thuộc chủ nghĩa lãng mạn, nhà phê bình đã dẫn một đoạn nói về sự ra đời chủ nghĩa lãng mạn ở Pháp, đồng thời cho thấy trào lưu văn học đó ở Việt Nam lúc bấy giờ không còn phù hợp nữa. Ngoài ra, việc sử dụng khái niệm làm điểm tựa cho các lập luận, kiến giải và phê bình trong các bài viết cũng góp phần làm tăng tính khoa học, hàn lâm, mặt khác cung cấp thêm tri thức cho độc giả. Thiết nghĩ đây là một điều cần thiết bởi trong bối cảnh lúc bấy giờ không phải tất cả độc giả văn chương đều đã được tiếp cận sâu sát các lí thuyết văn học ở nước ngoài. Đây vừa là một hành động có ý thức nhưng có thể cũng là một thói quen của một số nhà nghiên cứu, phê bình văn học giai đoạn này. Một điểm đặc biệt nữa ta thấy trong các bài viết của Kiều Thanh Quế là lối kết cấu thể hiện rõ thời gian sự kiện cũng như tính thời sự của vấn đề. Nhiều bài viết của ông nhằm trao đổi, đối thoại lại bài viết của các tác giả khác vừa công bố trên báo. Nắm bắt các sự kiện văn học một cách nhanh nhạy, ông rất chú ý về phương diện thời gian của các sự kiện văn học. Các từ ngữ ông thường sử dụng trong lập luận là “vừa rồi”, “gần đây”, “năm ngoái”, “trước đây”, “xa một chút”, “ít lâu sau”… Do vậy mà đọc bài của ông, người đọc thấy rõ hơi thở cũng như nhịp vận động của đời sống văn học. Ông không tách biệt hoặc phơi bày sự kiện văn học như một đối tượng biệt lập với đời sống để giải phẫu, nghiên cứu mà để các sự kiện được “nóng hổi” hơi thở trong chính cuộc sống của nó. Tuy nhiên, đâu đó trong một số bài phê bình ta vẫn thấy có những kết cấu không chặt chẽ hoặc có những liên hệ nằm ngoài hệ thống. Nguyễn Văn Trung khi đọc cuốn Ba mươi năm văn học và Tiến hóa văn học Việt Nam của Kiều Thanh Quế đã công nhận đóng góp của Kiều Thanh Quế là “đi xa hơn trong dự định muốn phác họa lịch trình diễn tiến văn học của cả một dân tộc”, tuy nhiên ông cũng thẳng thắn nhận xét công trình của Kiều Thanh Quế là “chưa hẳn là một xây dựng có hệ thống văn học sử mà chỉ là phát họa những nét lớn của một lịch trình diễn tiến văn học và những tiêu chuẩn đề ra để phân chia thời kì, khuynh hướng văn học cũng chưa được hợp lí lắm” Nguyen, 1968, Nhà nghiên cứu Hoài Anh, tác giả cuốn Chân dung văn học cũng đã dành một số lượng trang đáng kể để phân tích những đóng góp cũng như hạn chế của tác giả phê bình này. Trong đó, ông cũng chỉ ra những chỗ ông cho rằng Kiều Thanh Quế đã khá rời rạc, thậm chí là tự mâu thuẫn trong quan điểm nghiên cứu Hoai, 2001, Theo chúng tôi, vì hầu hết các bài phê bình, nghiên cứu của Kiều Thanh Quế được công bố qua báo chí nên ông thường kết cấu theo lối mở hơn là một kết thúc đóng kín. Lối viết này thường mang lại cho người đọc sự bất ngờ, đồng thời dễ gợi những ý kiến trao đổi, nghị luận, một hoạt động thường xuyên, cũng là thế mạnh trong hoạt động văn học giai đoạn này. Đặc điểm về văn phong Sức mạnh của ngòi bút phê bình Kiều Thanh Quế được tạo nên bởi văn phong súc tích, chặt chẽ cùng với lối viết thẳng thắn, đi trực diện vào vấn đề. Đây là một lối viết khá thẳng thắn, không vòng vo, thể hiện cái nhìn bộc trực, chỉ rõ những điểm hay, dở của tác phẩm chứ không câu nệ, cả nể. Nhiều câu trong bài viết, ông sắp đặt theo lối diễn giải, tạo sự rành mạch, dễ hiểu. Ví dụ như câu “Những nhát bay giản dị là nghệ thuật Tô Hoài câu văn ngắn mà đủ nghĩa nhờ những chữ không cầu kì mà đặt đúng chỗ” Nguyen & Phan, 2009, Hoặc cũng có khi ông viết theo lối nêu khái niệm “Nhà văn là nhà sáng tác. Nhà bác học là bực học rộng chuyên biên khảo, dịch thuật chớ không có sáng tác nào đáng kể” Nguyen & Phan, 2009, Nhiều đoạn trong bài viết Kiều Thanh Quế cũng dùng giọng văn trao đổi, tranh luận “Thế nào là nhà văn? Ở đầu tác phẩm của mình, Vũ Ngọc Phan đã định nghĩa […]. Định nghĩa như thế Vũ Ngọc Phan chỉ mới phân biệt nhà văn với nhà báo thôi! Ông còn quên cho độc giả rõ thế nào là nhà văn, thế nào là nhà bác học!” Nguyen & Phan, 2009, Ông cũng hay dùng các cụm từ chỉ ý trao đổi, tranh luận làm sáng tỏ vấn đề như “đố ai tìm được…”, “sao có thể gọi là…”, “một tác phẩm được mọi người cho hay, vị tất đã là hay! Điều gì cổ nhân bảo phải, vị tất đã là phải!” Nguyen, & Phan, 2009, Là một cây bút phê bình văn chương, nhưng không chỉ dừng lại ở chủ đích thẩm bình, khen chê, Kiều Thanh Quế còn xem nghệ thuật phê bình là một cách thức để góp phần xây dựng, làm thay đổi tương lai nền văn học nước nhà. Chính vì vậy mà những lập luận của nhà phê bình họ Kiều khá thẳng thắn trên tinh thần góp ý, xây dựng. Phê bình “Triết học Bergson” của Lê Chí Thiệp, ông góp ý “Ước gì ông tác giả cuốn sách vừa bàn về trực giác của Bergson lại vừa nói chút đỉnh đến “trí lương tri” của Vương Dương Minh thì hay biết mấy. Chỗ dị đồng giữa Vương Dương Minh và Bergson cũng như chỗ dị đồng giữa Bergson và Tagore chắc hẳn là không phải không có Nguyen & Phan, 2009, Hay trong bài phê bình tác phẩm “Trở lửa vỏ ra”, một tiểu thuyết của Phan Khôi, Kiều Thanh Quế thẳng thắn góp ý vị tiền bối của mình “Ông Phan Khôi nên dành để nghệ thuật quý báu của mình nghệ thuật khảo cứu mà phụng sự những điều mình sở đắc. Tiểu thuyết không phải địa hạt của Phan tiên sinh” Nguyen & Phan, 2009, Ngòi bút ấy còn mạnh dạn trong việc đúc kết vấn đề, tạo điểm nhấn cũng như sức gợi cho người đọc. “Sau Khái Hưng còn có Trần Tiêu, Tô Hoài… Sau Hồ Biểu Chánh chỉ có Hồ Biểu Chánh hay sao? Nếu thế, đáng buồn thay cho làng tiểu thuyết Nam Kỳ!” Nguyen, & Phan, 2009, Có thể nói, tính cách thẳng thắn, bộc trực đã đi vào văn phong, cách triển khai bài viết cũng như sự quan tâm đến những vấn đề văn học của Kiều Thanh Quế. Đôi khi tự biết sự thẳng thắn của mình sẽ gây ra nhiều ý kiến bất lợi, nhưng trước sau ông vẫn giữ vững thái độ đó trong ngòi bút. Hơn một lần ngòi bút phê bình của Kiều Thanh Quế thể hiện quan điểm “yêu công lí” khi chỉ ra những trường hợp không thành thật trong văn chương. Đó là nghi án đạo thơ của Lưu Trọng Lư trong bài viết “Thi sĩ Lưu Trọng Lư với “Tiếng thu” đăng trên Tri Tân, số 138 tháng 4-1944, chỉ ra sự không thành thật của Lan Khai trong bài phê bình “Cuộc hội ngộ Lan Khai – Zweig “Tội và thương” gặp “La Peur” đăng trên Tạp chí Tri Tân số 43 tháng 4-1942, rồi đến bài “Vở “Jalousie” của Sacha Guitry biến thể trong Ghen’” đăng trên Tạp chí Tri Tân số 76 17-12-1942. Cũng trong bài viết này, Kiều Thanh Quế đã nêu rõ quan điểm của mình “Sau bài phê bình Tội và thương của Lan Khai, nhiều người chuộng sự thành thật trong văn chương tỏ lời khuyến khích ngọn bút hèn kém này, nhưng cũng có lắm kẻ nệ chấp cho chúng tôi làm thế là vì ác ý với tác giả. Ở đây chúng tôi xin miễn thân oan cho mình, và xin theo đuổi công việc của mình…” Nguyen, & Phan, 2009, Từ đó ta thấy, trong phê bình, Kiều Thanh Quế là một ngòi bút có cá tính, yêu sự chân thật, rõ ràng. Nhiệt tâm với công việc xây dựng nền văn học, ông đã bộc lộ tinh thần “trượng nghĩa” vốn hiện diện sâu đậm trong đời sống người dân Nam Bộ. Mặc dù vậy, ông cũng ý thức được đâu là điểm dừng của một nhà phê bình. Phê bình một tác giả hay tác phẩm, Kiều Thanh Quế chủ trương “Thi tài của một nhà thơ cần phải đem phân tích, rồi để độc giả nhân đó nhận thức, đánh giá trình độ, cái hay của thi sĩ ấy. Nhà phê bình, nhà làm truyện kí khỏi cần phải lôi thôi thêu dệt bằng lắm lời hoa mĩ…” Nguyen, & Phan, 2009, Phê bình một tác phẩm, theo ông, nhà phê bình cần phải chừng mực trong ngòi bút, tránh dẫn dắt độc giả tin theo những ý tưởng chủ quan của mình. Đặc điểm về ngôn ngữ Trong nghiên cứu cũng như phê bình, ngôn ngữ Kiều Thanh Quế có những đặc điểm như Sử dụng nhiều từ Hán Việt hoặc trích dẫn những câu chữ Hán thường dùng trong lí luận truyền thống. Ví dụ như trong bài phê bình ngòi bút viết truyện của Phan Khôi, Kiều Thanh Quế mở đầu bằng câu “Người đời xưa bảo “Không nên lấy từ hại ý”. Ông Phan Khôi không nghe lời” Nguyen, & Phan, 2009, Người xưa ở đây là chỉ những nhà tư tưởng lí luận văn học Trung Quốc, cụ thể ở đây là của Lưu Hiệp trong cuốn Văn tâm điêu long. Ngoài ra, nhiều khi trong một đoạn mà tác giả sử dụng xen kẽ những từ Hán Việt và những từ dịch ra từ tiếng Pháp, như “Trong phương hoạch hành văn procédé de style, trọng yếu nhất là hình tượng image và tả ảnh từ métaphore. Tả ảnh từ dạy cách chuyển tánh chất một thứ dễ ý hội sang một thứ khó ý hội. Cách chuyển hóa này biến thành lối so sánh, tỉ giảo comparasion” Nguyen, & Phan, 2009, Trong bài “Phiên dịch cũng là cách đào luyện văn chương” đăng trên Tri Tân số 49 6-1942, có đoạn Biết bao danh sĩ Tàu, Nhật sở dĩ quảng kiến đa văn được là nhờ học ở sách dịch. Lương Khải Siêu, một danh sĩ Tàu hồi Trung Hoa dân quốc thành lập chẳng hạn, nhờ học ở sách dịch mà uyên bác được tất cả uyên nguyên học phái triết học, khoa học, sử học… từ thượng cổ trải qua trung cổ đến tân kim thời đại, từ Hy Lạp trải qua La Mã đến Anh, Pháp, Đức, Mĩ thông hiểu được thuyết thực nghiệm của Bacon, thuyết tồn nghi của Descartes, thuyết xã ước của Rousseau, thuyết chánh trị, tạm quyền của Montesquieu, thuyết nguyên phú của Smith, thuyết quốc gia của Bluntchi, thuyết thiên diễn của Darwin, thuyết triết học điều hòa của Kant, thuyết lợi lạc của Bentham… Nguyen, & Phan, 2009, Lối sử dụng ngôn ngữ này có trong các bài nghiên cứu và phê bình của Kiều Thanh Quế khá nhiều. Viết nguyên âm những từ tiếng Pháp mà không dịch nghĩa. Ví dụ đoạn Kiều Thanh Quế viết về chủ nghĩa hiện thực “Ở nước ta trước thời kì 1935-1936 hay ở vào nước Pháp trước năm 1850, tức sanh nhằm một thời đại nó phân cách hậu diệp chánh thể dân chủ buộc joa démocratie bourgeoise với sơ diệp chánh thể dân chủ xã hội démocratie sociale” Nguyen, & Phan, 2009, Điều này có thể tạo nên sự khó hiểu cho người đọc bây giờ, nhưng giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX, đó có lẽ là một hiện tượng phổ biến ở Nam Bộ. Bởi ngay cả trong ca dao Nam Bộ cũng có hiện tượng viết nguyên âm tiếng Pháp mà không dịch này. Như câu “Bước vô Trường Án, vỗ ván cái rầm/ Bủa xua ông Tham Biện, bạc tiền ông để đâu” Cao dao Nam Bộ. Bủa xua là tiếng bồi đọc trại từ chữ bonjour của Pháp. So với các cây bút miền Bắc vào giai đoạn này, sự ảnh hưởng Hán học đã lùi dần, nhường chỗ cho văn hóa phương Tây, thì ở Nam Bộ, sự ảnh hưởng của nền Hán học vẫn còn tồn tại. Ngoài ra còn do thói quen sử dụng ngôn ngữ của người Nam Bộ. Nguyễn Văn Trung khi khảo sát văn học trên tờ Lục tỉnh Tân văn đầu thế kỉ đã nhận thấy rằng “riêng về từ, lời nói thường dùng từ nôm na bình dân, nhưng cũng có thể dùng nhiều từ Hán Việt, kể cả câu xuôi của chữ Nho mà người trí thức thời đó khi nói vẫn quen dùng nên khi viết cũng cứ để nguyên như vậy. Đến khi tiếp xúc với văn hóa Pháp, đôi khi nói cũng pha tiếng Pháp, thì khi viết cũng viết như khi nói, không dịch ra” Nguyen, 2015, Nam Bộ là nơi có sự ảnh hưởng, giao lưu văn hóa khá đa dạng, lại thêm việc sử dụng tiếng Pháp từ rất sớm nên nhiều người đã quen với việc dung hợp nhiều thứ ngôn ngữ trong đời sống để thích nghi. Do vậy, trong ý thức, họ không cần dịch mà phát nguyên âm và mọi người vẫn có thể hiểu. Hơn nữa, văn học Nam Bộ còn có một đặc điểm là “văn viết học theo văn nói” trong khi miền Bắc thì ngược lại nên dần dần những yếu tố thuộc về phát âm cũng đi vào văn viết một cách tự nhiên. Ít chọn lọc ngôn ngữ viết thuần túy mà đã giữ lại cách diễn đạt tự nhiên, dân dã, đậm đặc ngôn ngữ của người bình dân Nam Bộ. Đặc điểm này hiện diện trong hầu hết các tác phẩm của Kiều Thanh Quế, kể cả nghiên cứu, dịch thuật và phê bình, nên phần nào cũng làm ảnh hưởng đến tính chuyên nghiệp trong văn phong nghiên cứu của ông. Ta có thể bắt gặp các từ như sanh, nhứt, lộn xộn, lôi thôi, dài ngoằng, cỏn con, vẽ vời, bưng, na ná, lèo tèo, nói qua loa… Theo Nguyễn Văn Trung, “Cuộc sống của miền Nam đưa người lưu dân đến chỗ dễ tước bỏ những cái trang trọng, đài các, chải chuốt, tế nhị, thâm trầm khi thực ra chúng chỉ còn là hình thức khuôn sáo quanh co ngăn chặn những thông cảm chân thành trực tiếp”. “Nói, viết văn cũng vậy. Trở về với cái chân thực, chân tình, thông cảm trực tiếp là trở về với ngôn ngữ nói hằng ngày, và nếu viết văn thì đó là thứ văn nói, nghĩa là thứ văn viết ra để đọc, để trình diễn cho mọi người xem, nghe bằng con mắt, lỗ tai, không phải thứ văn để đọc một mình” Nguyen, 2015, Cũng theo học giả này, sự trở về với lời nói hàng ngày trong văn chương không phải là một trường hợp riêng của miền Nam. Đó là một biểu lộ văn hóa ở những miền đất mới. Xét về một phương diện nào đó, nó biểu lộ “sự sống động, phong phú về ngôn ngữ của con người ở vùng đất mới, như một trở lại với cái khởi đầu, chưa có sự phân biệt, quy định chặt chẽ. Hiện tượng trên không phải là đặc thù, mà đúng ra chỉ bày tỏ một quy luật về văn hóa trong quan hệ của con người vùng đất cũ và vùng đất mới”, “biểu hiện một xã hội sống động đang chuyển mình, đổi mới” Nguyen, 2015, 452. Như vậy có thể nói, ngôn ngữ nghiên cứu, phê bình của Kiều Thanh Quế thể hiện một đặc trưng rất Nam Bộ giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX. Do tiếp thu cả hai nền phê bình truyền thống và hiện đại, phương Đông và phương Tây, nên trong ngôn ngữ phê bình, ta thấy Kiều Thanh Quế thường sử dụng trộn lẫn ba ngôn ngữ vừa dùng từ Hán Việt, vừa sử dụng những thuật ngữ về văn học hoặc chính trị, tư tưởng bằng tiếng Pháp, vừa kết hợp lớp ngôn ngữ bình dân Nam Bộ. Tùy vào cách nhìn nhận của mỗi người, nhưng theo chúng tôi, điều này ít nhiều đã cho thấy được bản lĩnh, sự tự tin của một nhà nghiên cứu. Bởi một trí thức Tây học như Kiều Thanh Quế vốn đã tiếp thu một lối hành văn khúc chiết, khoa học từ phương Tây thì không lẽ nào không thể khắc phục được những hạn chế về cách dùng từ mang tính chất địa phương. Hơn nữa các tác phẩm của Kiều Thanh Quế không chỉ xuất bản trong phạm vi địa phương Nam Bộ mà còn được ông chủ động đưa “tiếng nói địa phương” ra tận miền Bắc thông qua việc đăng bài trên Tạp chí Tri Tân. Vì thế, có thể xem đây là một hành động có chủ đích trong việc tạo nên một chất giọng riêng hiếm có thời bấy giờ. 3. Kết luận Có thể thấy phong cách nghiên cứu, phê bình của Kiều Thanh Quế gắn liền với lối tư duy thiên về lí trí, logic, xem trọng tính khoa học hơn là thiên về duy cảm; do đó, các tác phẩm của Kiều Thanh Quế dù là nghiên cứu hay phê bình cũng ít nhiều có giá trị về mặt lí luận và mang tính khoa học chứ không đơn thuần chỉ là tiếp nhận hoặc cảm thụ nghệ thuật. Về mặt kết cấu, các bài viết và công trình nghiên cứu của ông đôi chỗ có thể chưa được chặt chẽ nhưng cái chính là ông đã đóng góp cho độc giả và các nhà nghiên cứu sau này nhiều dữ liệu về các hoạt động trong đời sống văn học đương thời. Ngoài ra, do kiến văn rộng rãi, với lối so sánh và liên hệ linh hoạt, các công trình và bài viết của ông đã dẫn dắt, gợi mở cho người đọc nhiều vấn đề văn học có liên quan không chỉ trong nước mà còn trên thế giới. Quan trọng là ông không làm điều này chỉ để tăng sự sang trọng cho bài viết mà là muốn cung cấp thêm tri thức cho các độc giả trong nước thời bấy giờ. Cùng với Lê Thọ Xuân, Kiều Thanh Quế là một trong những nhà nghiên cứu tiên phong trong vấn đề mở rộng giao lưu học thuật giữa miền Nam và miền Bắc thông qua việc nhiều bài nghiên cứu, trao đổi, phê bình của ông được đăng trên Tạp chí Tri Tân. Riêng điểm này đã cho thấy được bản lĩnh và sự tự tin của ông trong môi trường giao lưu học thuật bấy giờ. Và mặc dù công bố các bài viết của mình ở môi trường học thuật miền Bắc nhưng Kiều Thanh Quế không vì thế mà làm giảm đi văn phong mang tính cách Nam Bộ. Khác với lối viết của Đông Hồ hay Trúc Hà rất gần với văn phong miền Bắc, trước sau Kiều Thanh Quế vẫn giữ được chất giọng Nam Bộ rất riêng của mình. Tất cả những điều này có lẽ không nằm ngoài dự định muốn tạo nên một diễn ngôn mới trong nghiên cứu văn học dân tộc. TÀI LIỆU THAM KHẢO Hoai Anh 2001. Literary portrait [Chan dung van hoc]. Hanoi Writers’ Association Publishing House. Nguyen, H. S., & Phan, M. H. compilation 2009. Evolution of Vietnamese literature [Cuoc tien hoa van hoc Viet Nam]. Hochiminh City Thanh nien Publishing House. Nguyen, V. T. 1968. Literary profile Literary research and criticism [Luoc khao van hoc nghien cuu va phe binh van hoc]. Saigon Nam Son Press. Nguyen, V. T. 2015. Research profile of the six provinces of Southern Vietnam [Ho so luc chau hoc]. Hanoi Tre Publishing House. Nguồn Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh, Tập 17, Số 4 2020 743-754 Thánh Địa Việt Nam Học

các phương pháp phê bình văn học